Hội thảo do Trường Đại học Kinh tế-Luật (UEL) và Viện Nghiên cứu phát triển Công nghệ ngân hàng ĐHQG-HCM (VNUHCM-IBT) đồng tổ chức hôm nay, có sự tham dự của Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú; Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Trần Quốc Phương; các nhà khoa học, chuyên gia, các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp cùng thảo luận, phân tích nhằm đề xuất các lựa chọn chính sách thích hợp cho phục hồi và phát triển kinh tế Việt Nam.

Tại hội thảo, VNUHCM-IBT công bố hai báo cáo :

  1. Lựa chọn chính sách phục hồi kinh tế Việt Nam giai đoạn Covid-19.
  2. Khung pháp lý phát triển công nghệ tài chính : kinh nghiệm ở các nước và khuyến nghị cho Việt Nam.

Nghiên cứu của VNUHCM-IBT cho rằng gói kích thích hiện nay của Việt Nam có tác động giới hạn đối với doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính, đã phải ngưng hoạt động và có thể phải giải thể hoặc phá sản trước khi cải thiện được dòng tiền vì các chính sách
giảm, giãn và hoãn thuế, giảm tiền thuê đất chỉ làm giảm hoặc ngăn dòng tiền ra của doanh nghiệp, chưa có chính sách hỗ trợ tạo/tăng dòng tiền vào cho doanh nghiệp sẽ quan trọng & mang lại hiệu quả hơn, tạo nhiên liệu kích hoạt cỗ máy kinh doanh tái khởi động.

Các chuyên gia cũng cho rằng việc lựa chọn chính sách phục hồi kinh tế cần đặt trong tầm nhìn trung hạn với các giải pháp phi truyền thống, thậm chí khác biệt vốn đã từng được áp dụng trong quá khứ vì bản chất tác động khủng hoảng do Covid-19 khác các khủng hoảng trước.
Theo đó, cần cân nhắc điều chỉnh tăng chỉ tiêu lạm phát 4% của năm 2020 để giúp NHNN có dư địa đủ lớn cho việc nới lỏng tiền tệ & cắt giảm lãi suất, không chỉ ở lãi suất liên ngân hàng mà phải đảm bảo tác động làm hạ thấp mạnh hơn nữa lãi suất cho vay kể cả lãi suất của các món nợ cũ.

Triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp & tốc độ giải ngân thời gian qua cho thấy mục tiêu tăng trưởng tín dụng 9-14% đã đặt ra cho năm 2020 có thể khó đạt được, vì vậy thay vì chỉ đeo đuổi mục tiêu chung của tăng trưởng tín dụng, cần đặt ra mục tiêu hỗ trợ cho các ngành ưu tiên như công nghiệp chế biến – chế tạo xuất khẩu, thương mại, thuỷ sản, nông nghiệp… Việc xác định ngành ưu tiên hỗ trợ nên dựa trên ít nhất hai yếu tố là tốc độ phục hồi và mức độ ổn định của đầu ra của sản phẩm. Những doanh nghiệp hồi phục nhanh sẽ giúp nâng đỡ nền kinh tế và từ đó tác động lan tỏa để các doanh nghiệp khác phục hồi. Như vậy, chính sách cần có sự tập trung theo nhóm ngành chứ không nên dàn trải, thiếu tập trung.

Đặt giả thuyết, nếu tình hình Covid-19 kéo dài, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, hoạt động các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề hơn thì trong các quý tới cho vay cá nhân có thể giảm 20-25% và cho vay doanh nghiệp có thể giảm đến 30-40%. Vì vậy trong thời gian tới, các Ngân hàng thương mại (NHTM) nên ưu tiên chú trọng tái cấu trúc và gia hạn nợ mạnh hơn.

Phó Thống đốc Đảo Minh Tú cho rằng, hiện tại dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo kinh tế thế giới có thể sẽ phục hồi và đạt mức tăng trưởng cao vào năm 2021. Trong đó, Việt Nam cũng sẽ có nhiều cơ hội để phục hồi và phát triển nền kinh tế nhờ vào sự chủ động gia nhập các các chuỗi giá trị kinh tế toàn cầu mới được tạo lập hoặc tái lập sau dịch.

Theo TS Sơn, việc cắt giảm lãi suất không đáng kể khiến cho lãi vay vẫn là gánh nặng lớn cho bên đi vay, vì vậy đề xuất Chính phủ cần có chính sách tài khoá trung hạn cho phép doanh nghiệp chuyển lỗ về năm trước. Bộ Tài chính nên nghiên cứu cho phép doanh nghiệp chủ động chuyển lỗ về năm trước (2019 và 2018) hoặc năm sau (2021, 2022 và 2023) trong hạn định 5 năm. Từ đó góp phần tạo dòng tiền vào cho doanh nghiệp do được hoàn thuế & ngăn dòng tiền ra do giảm thuế thu nhập. Đồng thời cần bố trí một khoản mục chi tái thiết kinh tế trong dự toán ngân sách thời kỳ 2021-2026 dưới hình thức hỗ trợ lãi suất, giảm và giãn thuế.

Với chính sách tài khoá, phân tích của VNUHCM-IBT cho rằng để giải quyết cuộc khủng hoảng do đại dịch Covid-19 gây ra cần sử dụng công cụ chính là chính sách tài khóa còn chính sách tiền tệ sẽ đóng vai trò hỗ trợ. Việt Nam là nước có độ mở thương mại lớn và có mối tương quan dương với tăng trưởng GDP thế nhưng cho đến thời điểm này hầu hết các đối tác thương mại lớn của Việt Nam vẫn đang còn áp dụng biện pháp phong toả, vì vậy tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn rất cần phải dựa vào nội lực .

Ngoài ra, cần lưu ý về rủi ro trong quá trình thực thi chính sách tài khóa giai đoạn Covid-19 để đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả của chính sách tài khóa. Theo đó, cần thiết phải theo dõi và phòng vệ một số rủi ro có thể gây hại như: rủi ro thể chế làm chậm tiến độ bơm tiền kích thích tiêu dùng và đầu tư, rủi ro tham nhũng và/hoặc sợ trách nhiệm, rủi ro chệch mục tiêu …

Đồng thời cần có các giải pháp hỗ trợ phát triển Fintech phù hợp với tình hình mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn với mục tiêu xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh để phát triển hệ sinh thái Fintech góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi số hiệu quả, nhất là trong bối cảnh đại dịch Covid-19.
Vấn đề đặt ra cho Việt Nam là lựa chọn khung pháp lý cho Fintech như : làm sao để quản lý hiệu quả hoạt động cho vay ngang hàng; khung pháp lý liên quan đến thanh toán di động và mobile money…

Điểm mấu chốt cuối cùng là những ý kiến đúng của các chuyên gia, các tổ chức vẫn mãi không có giá trị, bị vô hiệu, “chỉ làm màu” nếu cơ quan nhà nước nghe rồi bỏ đấy, không thực hiện bởi đụng chạm đến lợi ích nhóm nhỏ lẻ mà chính những người đại diện nhà nước hưởng lợi …

Tuy nhiên trong vấn đề này vẫn có những ý kiến chưa đúng khi tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn rất cần phải dựa vào nội lực lại phụ thuộc vào chi tiêu công trong khi cơ chế vận hành hiện nay không thể kiểm soát tốt việc ngăn chặn những tiêu cực lớn trong chi tiêu công, thường vẫn luôn gây ra những hậu quả khôn lường về sau, vẫn mãi chỉ là vòng luẩn quẩn không lối thoát.

Những lưu ý về rủi ro trong quá trình thực thi chính sách tài khóa dù có nêu ra nhưng gần như không có giá trị, vô nghĩa, luôn mang tính hình thức trong cơ chế hiện nay tạo ra những suy thoái, khủng hoảng mới do nội tại bộ máy điều hành Việt Nam gây ra hơn là từ các yếu tố bên ngoài.

🐉 Nguyễn Tấn Quan

* * *

Cơ chế : Cách thức tổ chức nội bộ và quy luật vận hành bo may nha nuoc …

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s