coronavirus_popup_180.jpg

Giới thiệu

Cách ly các trường hợp và theo dõi tiếp xúc được sử dụng để kiểm soát sự bùng phát của các bệnh truyền nhiễm, và đã được sử dụng cho COVID-19. Chiến lược này có đạt được sự kiểm soát hay không phụ thuộc vào đặc điểm của cả mầm bệnh và cách xử lý và đối kháng với lây lan. Ở đây, chúng tôi sử dụng một mô hình toán học để đánh giá xem sự cô lập các ca nhiễm bịnh và theo dõi những người tiếp xúc với các ca đó có khả năng để kiểm soát việc truyền đi từ các trường hợp nhập khẩu của COVID-19 hay không.

Phương pháp

Tác giả đã phát triển một mô hình truyền tải. Họ đã sử dụng mô hình để định lượng hiệu quả tiềm năng của việc theo dõi và cách ly các ca trong việc kiểm soát mầm bệnh giống COVID-19. Họ đã xem xét các chiến lược khác nhau về 1) số lượng các trường hợp ban đầu, 2) số tái tạo cơ bản (R0), 3) độ trễ từ khởi phát triệu chứng đến cách ly, 4) xác suất các tiếp xúc được theo dõi, 5) tỷ lệ lây truyền xảy ra trước khi khởi phát triệu chứng và 6) tỷ lệ nhiễm trùng không có triệu chứng (và do đó không phát hiện). Chúng tôi giả định cách ly ngăn chặn tất cả truyền dẫn trong mô hình. Bùng phát được coi là kiểm soát nếu lây lan kết thúc trong vòng 12 tuần. Tác giả đã đo lường sự thành công của việc kiểm soát các ổ dịch bằng cách sử dụng cách ly và theo dõi liên lạc, và định lượng số lượng ca bệnh tối đa hàng tuần được theo dõi để đo lường tính khả thi của nỗ lực y tế công cộng.

Kết quả

  • Các đợt bùng phát mô phỏng bắt đầu (với 5 ca bệnh ban đầu, số tái tạo cơ bản R0 là 1,5 (2 ca bệnh lây cho 3 người) và lây lan 0% trước khi khởi phát triệu chứng), các ổ dịch có thể được kiểm soát ngay cả với xác suất truy tìm tiếp xúc thấp.
  • Trong mô phỏng ban đầu, xác suất kiểm soát ổ dịch giảm theo số ca mắc ban đầu, khi R0 là 2,5 hoặc 3,5 và lây lan nhiều hơn trước khi khởi phát triệu chứng.
  • Trên các mô phỏng ban đầu khác nhau, phần lớn các trường hợp có R0 là 1,5 được kiểm soát với ít hơn 50% số liên lạc được truy tìm thành công.
  • Để kiểm soát phần lớn các vụ dịch, đối với R0 là 2,5, hơn 70% số liên lạc phải được theo dõi;
  • Đối với R0 là 3,5, hơn 90% số liên lạc phải được truy tìm để ngăn chận lây lan. 
  • Sự chậm trễ giữa khởi phát triệu chứng và cách ly có vai trò lớn nhất trong việc xác định liệu một ổ dịch có thể kiểm soát được khi R0 là 1,5 hay không.
  • Đối với các giá trị R0 là 2,5 hoặc 3,5, nếu có 40 trường hợp ban đầu, việc theo dõi và cách ly tiếp xúc chỉ khả thi khi có ít hơn 1% lây lan xảy ra trước khi khởi phát triệu chứng.

Diễn dịch

Trong hầu hết các chiến lược, theo dõi liên lạc hiệu quả cao và cách ly trường hợp là đủ để kiểm soát đợt bùng phát mới của COVID-19 trong vòng 3 tháng. Xác suất kiểm soát giảm khi chậm trễ từ khởi phát triệu chứng đến cách ly, ít trường hợp được xác định bằng theo dõi tiếp xúc và tăng lây truyền trước khi có triệu chứng.

Áp dụng

“Mới tuần trước, phó thủ tướng Vũ Đức Đam còn mạnh dạn tuyên bố không có ai nhiễm nữa, Việt Nam sẽ là nước đầu tiên trên thế giới đã ngăn chận được nạn dịch.” (2) Tuyên bố nầy không dựa vào dữ liệu, và hiển nhiên là sai. Trong bài trên, khoảng 3 tháng mới đủ xác định là dịch được coi là tạm ổn.

Nguồn:

Số 1. Joel Hellewell, PhD; Sam Abbott, PhD; Amy Gimma, MSc; Nikos I Bosse, BSc; Christopher I Jarvis, PhD; Timothy W Russell, PhD; et al. Feasibility of controlling COVID-19 outbreaks by isolation of cases and contacts. Lancet February 28, 2020. DOI: https://doi.org/10.1016/S2214-109X(20)30074-7

Số 2. https://baotiengdan.com/2020/03/07/diem-tan-vo-tu-nhung-khac-biet/

Ủng hộ quỹ cải cách học thuật của Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

Donate us

$10.00

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s