Cụ Lê Đình Kình và dân làng Đồng Tâm ra cánh đồng giữ đất. Ảnh tư liệu.
Cụ Lê Đình Kình và dân làng Đồng Tâm ra cánh đồng giữ đất. Ảnh tư liệu.

Muốn cho dân nhờ giáo dục thì phải có của dư dả mới tìm ra thì giờ nhàn rỗi đi học, nếu như bụng đói thì hết có thể nói đến học với hành, có hô hào cũng vô ích. Vì thế tất cả sách Mạnh Tử phản chiếu mối lo âu làm sao dân giàu “dân khả sử phú dã” (Mạnh Tử VII. 23)

Không có sách nào trong triết học tha thiết về vấn đề làm giàu dân bằng. Nên trước khi nói “giáo chi” Khổng Tử đặt “phú chi”. Điểm này cũng phản lại pháp gia chủ trương làm giàu chúa yếu dân (phú quốc cường binh, 富 國 强 兵). Khổng trái lại làm giàu dân: bá tánh bất túc quân thục dữ túc, 百 姓 不 足 , 君 孰 與 足 (L.N.XII.9.) Bá tánh không đủ ăn thì vua đủ ăn với ai. Ông đã từ Nhiễm Hữu là người đi sái tinh thần “phú chi” bằng câu “quân tử chu cấp bất kế phú, 君 子 周 急 不 繼 富” (L.N. VI 3), người quân tử thì cấp pháp cho khắp hết, chứ không gia thêm cho người giàu. Kinh Dịch quẻ Ích “thoán viết: Ích. Tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương, 彖 曰 .益 .損 上 益 下 .民 說 無 疆 “, lời thoán nói rằng: quẻ ích là lấy bớt của người trên mà thêm cho người dưới thì dân ủng hộ vô bờ
bến.

Chính Khổng Tử thường tuyên bố coi phú quý phi nghĩa như phù vân, 不 義 而 富 且 貴 , 於 我 如 浮 雲 (L.N. VII 15). Muốn hiểu câu này, nên chú trọng thời đó chưa có kỹ nghệ, buôn bán chưa mở mang, người ta không có cách làm giàu nào mau chóng hơn là làm quan để bóc lột dân chúng. Chính vì tình trạng đó mà có câu “vi nhân bất phú, vi phú bất nhân, 為 仁 不 富, 為 富 不 仁” (Mạnh Tử III, 3). Vì thế Khổng nói: “nước vô đạo mà giàu có phú quý là điều đáng sỉ nhục, cũng như nước có đạo mà để mình nghèo nàn bần tiện cũng là đáng sỉ hổ” 邦 有 道 , 貧 且 賤 焉 , 恥 也 ; 邦 無 道 , 富 且 貴 焉 , 恥 也 (L.N. VIII 14). Khi Quý Khương Tử ngỏ ý sợ dân ăn trộm, Khổng Tử liền trả lời thẳng: nếu ông trút bỏ được lòng tham, thì có thưởng dân cũng không thèm ăn trộm (cẩu tử chi bất dục, tuy thưởng chi bất thiết, 苟 子 之 不 欲, 雖 賞 之 不 竊, L.N. XIII 17).

Điều lo âu của ông vẫn là “bất hoạn quả nhi hoạn bất quân, 不 患 寡 而 患 不 均” (L.N. XVI. 1), không lo ít của cho bằng lo của chia không đều, vì nó dễ chạy xô vào tay mấy người có quyền thế.

Nguyên tắc quân phân tài sản đó sau này được Mạnh Tử phát huy rộng trong chủ trương “minh quân chế dân chi sản,明 君 制 民 之 產 ” (I. 6), bậc minh quân phải lo phân chia tài sản đều cho dân (đọc thêm Mạnh 1, 12, 36, 38). Và nhân đấy ông đề cao phép tỉnh điển cũng như Nho giáo chống đối việc bán đất mà sau này đời nhà Tần Thương Ưởng đã cho phép (Zenker 193, C.A Maspéro 314). Cho bán đất tức coi đất là của riêng (thiên hạ vi gia) vì nếu coi là của công thì phải để chung rồi cứ thời hạn mà phân phát. “Quân cấp” đời Lê Lợi cũng như phép hạn chế ruộng không được giữ quá 10 mẫu đời Trần bên ta là hậu quả của thuyết quân phân này. Gọi là công điền hay là đất của vua chỉ khác danh từ mà thôi. Nhiều người tỏ ý mỉa mai những luật cấm không ai được tậu đất làm của tư kẻo mất quân bình. Mà không thấy rằng từ khi bãi bỏ thể chế đó, cho phép mua bán đất (đời Tần) thì sự chênh lệch trở thành quá đáng: đưa đại chúng vào cảnh nông nô cơ cực làm cớ cho những cuộc nổi loạn của Vương Mãn, An Lộc Sơn. Ở những kỳ đó thì đất vào tay những đại điền chủ, ruộng công chỉ còn lối 5% (xem chẳng hạn Histoire de la Chine de Réné Grousset: 77,114, 208 và 353).

Đây là một thí dụ cụ thể chứng tỏ khi một thể chế được bảo trợ là vì nó gây điều kiện thuận lợi cho chủ trương Vương đạo. Tuyên bố mọi đất của vua tức là một lối thi hành câu “thiên hạ vi công”, nhờ đó “người 50 tuổi có lụa mặc, 70 tuổi có thịt mà ăn” (Mạnh Tử VII. 22). Những cải cách điền địa hiện nay, những khẩu hiệu “đất đai thuộc người cày cấy”… tuy khác thể chế mà tinh thần đều là “hoạn bất quân” của người xưa vậy. Không nên câu chấp danh từ để nhắm mắt trước thực tại.

Ghi chú: Bài này trích trong sách Cửa Khổng (Nguyên Nho), chương I, phần 2, Kim Định, nhà xuất bản Ra Khơi-Nhân Ái năm 1965 . Tựa đề gốc: Nguyên tắc thứ ba: Phú chi. Tựa đề mới do ban biên tập Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam đặt lại. 

3 thoughts on “Bất hoạn quả nhi, hoạn bất quân.

  1. Tôi đồng ý với Kiên Bùi và Trần Thị Bích Nga là bài nầy hay lắm!

    Bài nầy nêu lên biểu hiệu cho niềm tin của chúng ta vào sự sụp đổ tất yếu của bá quyền ở Trung Cộng và Việt Cộng. Các thể chế bá quyền nầy có vẻ ghê gớm nếu chúng ta nhìn từ quan điểm cá nhân. Nhưng bài nầy chỉ ra tiềm năng văn hóa và tri thức lâu đời, bàng hoàng trên hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Chính cái tiềm năng nầy là động lực thúc đẩy chuyển biến trong quá trình hủ hóa và thối rửa từ trung tâm đảng Cộng Sản ở hai nước nầy.

    Đồng Tâm cũng giống như Chernobyl ở Liên Xô ở một vài điểm quan trọng. Với tình trạng phóng xa ngày càng gia tăng từ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl, dân Nga phải đối mặt trực tiếp với sự thối rửa của đảng Cộng sản, một điều mà tuy họ biết đã lâu rồi nhưng không có đủ khẩn cấp để khiến mọi người đồng thuận trong hành động. Sự đồng thuận nầy dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và khối Đông Âu dưới bá quyền. Nên nhắc lại là sự đồng thuận nầy hình thành dưới sự hiện diện của hàng trăm ngàn dư luận viên, báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình ra rả mỗi ngày léo nhéo trong việc quảng cáo độc hại về “Độc lập, tự do, hạnh phúc”…

    Là người Việt, không có gì đáng hổ thẹn hơn là ở vào vị thế trong đảng cọng sản, hay a dua theo lối nội xâm phá hoại đất nước của chúng.

    Số lượt thích

Trả lời Phạm Đình Bá Hủy trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s