maxresdefault.jpg

Những câu chuyện rất cần thiết cho cuộc sống của con người như không khí chúng ta hít thở; cần thiết cho sự phát triển của chúng ta như thức ăn và đồ uống; quan trọng đối với hoạt động của chúng ta như bất kỳ giác quan nào của chúng ta (1). Mỗi một người trong chúng ta là một tác giả và người kể chuyện về câu chuyện cuộc sống độc đáo của riêng mình.

Từ những ngày đầu tiên của cuộc đời, kể chuyện đã là một phần cơ bản và trung tâm của cuộc sống từ mẹ và những người trong gia đình. Mẹ đã kể chuyện và hát cho con, ngay cả trước khi chúng được sinh ra. Mẹ kể cho con những câu chuyện và hát những bài đồng giao. Những vần điệu trẻ đầu tiên này có thể đơn giản và ngây thơ, nhưng chúng trở thành trung tâm trong cách chúng ta hình thành và xử lý các ý tưởng trong thời thơ ấu và trưởng thành. Chúng giúp chúng ta hiểu biết sớm về thế giới chúng ta đang sống và giúp hun đúc những hy vọng và nỗi sợ hãi trong ta.

Kể từ khi trẻ con có thể sử dụng ngôn ngữ thành thạo, tốc độ giao tiếp tăng lên đáng kể. Có thể có một người nói và người nghe tương tác thực sự (1). Điều này được thực hiện một cách vô thức, theo phản xạ, không cần nỗ lực và bây giờ chúng ta áp đặt các mẫu câu chuyện lên các sự kiện xung quanh theo bản năng. Cách tích hợp chuyện kể và tương tác nầy cung cấp bối cảnh, tổ chức và ý nghĩa cho cuộc sống. Thế giới mở rộng của các ý tưởng, khái niệm, đối tượng và mối quan hệ của chúng được thực hiện dễ hiểu trong ta thông qua các câu chuyện kể.

Cách thức mà tâm trí của chúng ta xử lý những câu chuyện kể có thể là không đơn giản (1). Dường như bộ não của chúng ta có thể tạo dựng các chuyện “thật” khi chúng có chất nền phù hợp. Bộ não cũng có thể tạo dựng các chuyện “giải dối” khi chúng không có chất nền phù hợp. Trong cách chúng ta xữ lý dữ liệu có một sự bắt buộc để áp đặt ý nghĩa và cấu trúc trên tất cả các thông tin – ngay cả dữ liệu ngẫu nhiên. Điều này dẫn đến việc nhìn thấy khuôn mặt của con người trong bóng tối trên bề mặt Sao Hỏa hoặc Karl Marx trên một miếng kẹo cao su, ví dụ về hiện tượng nhà thần kinh học người Đức Klaus Conrad đặt tên thuật ngữ apophenia – nỗ lực để tìm mô hình hoặc kết nối trong dữ liệu ngẫu nhiên hoặc vô nghĩa. Sự khao khát của chúng ta đối với các mẫu có ý nghĩa không chỉ giới hạn ở việc giải thích dữ liệu cảm giác, mà chuyển thành một cơn đói thực sự cho các câu chuyện kể.

Yêu cầu bản năng này để giải quyết sự không chắc chắn, ngẫu nhiên và trùng hợp bằng cách thực thi ý nghĩa thông qua tường thuật thậm chí hoạt động theo kiểu ngược lại (1). Hiệu ứng Kuleshov đã chứng minh bộ não hoạt động như thế nào để áp đặt một “câu chuyện ngược” trở lại – ngay cả khi không có một câu chuyện. Đầu những năm 1900, nhà sản xuất phim Liên Xô Lev Kuleshov đã thực hiện một bộ phim ngắn trong đó cảnh một diễn viên với khuôn mặt vô cảm đã được xen kẽ với những hình ảnh khác (một đĩa súp, một cô gái trong quan tài, một thiếu nữ trên giường). Người xem báo cáo rằng biểu cảm trên khuôn mặt của diễn viên mỗi lần xuất hiện, tùy thuộc vào việc anh ta đang ‘nhìn’ súp, cô gái trong quan tài hay thiếu nữ trên giường, biểu lộ tương ứng sự đói khát, đau buồn hay mong muốn. Các cảnh quay của diễn viên thực sự là cùng một cảnh quay mỗi lần – người xem đang bịa đặt câu chuyện ngược của chính họ.

EM Forster, tác giả trong “Khía cạnh của tiểu thuyết”, nói rằng chỉ có năm sự thật chính trong cuộc sống của con người: sinh, thức ăn, ngủ, tình yêu và cái chết (1). Do đó, không có gì ngạc nhiên khi những câu chuyện mạnh mẽ nhất phản ánh những chủ đề này, đặc biệt là hai chủ đề cuối cùng. Những câu chuyện kể của chúng ta giúp chúng ta đi đến thỏa thuận với những nguyên tắc cơ bản này để chúng ta có thể xử lý sự mênh mông và hỗn loạn của sự tồn tại. Hãy nghĩ về mối quan hệ giữa những câu chuyện và bản thân chúng ta như mối quan hệ giữa nước và cá. Theo cùng một cách chính xác mà nước thấm, hỗ trợ và cung cấp môi trường mang lại sự sống cho cá, tương tự như vậy con người không thể sống mà không có các câu chuyện kể.

Dường như có một cơ sở sinh lý thần kinh cấu trúc cho việc này; rằng chúng ta thực sự là “kết nối bằng dây cáp” cho chuyện kể (1). Các nghiên cứu MRI chức năng ở những người nghe có sự “hiểu biết sâu sắc về câu chuyện” cho thấy mức độ ‘khớp nối’ cao với các sự kiện tương tự trong não của người nghe, đặc biệt là trong các khu vực não bộ liên hệ đến “vỏ thính giác chính” (primary auditory cortex) và ngã ba thái dương (temporo-parietal junction) nơi sự khác biệt và trí tưởng tượng xuất hiện được xử lý. Chúng ta thực sự có thể kết nối với những người khác. Tuy nhiên, khớp nối này biến mất khi người tham gia không giao tiếp. Sự phản chiếu của nơ-ron thần kinh này có thể là cơ sở cho khả năng của chúng ta chạy các mô phỏng giả tưởng mạnh mẽ trong đầu và là cơ sở để suy diễn và hiểu những gì đang diễn ra trong cách suy nghĩ của một người khác.

Nói chung, các câu chuyện kể đã xác định các mẫu và một bộ các thành phần có thể dự đoán được. Có ba yếu tố phổ quát.
* Một nhân vật, một hay nhiều người
* Một vấn đề
* Một giải pháp của vấn đề.

Nếu bất kỳ điều nào trong số này vắng mặt trong một câu chuyện chúng ta đọc hoặc được kể, chúng ta thường cảm thấy không được thỏa mãn, không thoải mái, bằng cách nào đó hơi bị lừa một ít. Điều này đặc biệt áp dụng cho giai đoạn giải quyết của câu chuyện. Tuy nhiên, với độ tuổi và kinh nghiệm ngày càng tăng, hầu hết chúng ta đều đồng ý với thực tế rằng không phải tất cả các câu chuyện đều có thể, hoặc sẽ có một “kết thúc”. Nhưng điều đó không nhất thiết làm cho việc nghe một câu chuyện thiếu cấu trúc và mạch lạt dễ chấp nhận hơn.

Một chuổi dài những câu chuyện đã đang và sẽ được kể trên quê hương sau bao năm “sống” với đảng. Dân thường, các anh “Ba Xàm”, và báo chí lề trái đã đang kể về Độc Lập (hay sự run sợ trước hành vi xâm phạm lãnh hải Việt Nam), Tự Do (hay cố gắng trấn áp các quyền tự do căn bản của con người cho dù đảng đã ký kết các Công ước Quốc tế cam kết trân trọng các quyền căn bản nầy), và Hạnh Phúc (khi đảng tạo dựng một trong những môi trường sống khắt nghiệt nhất trên thế giới cho con người (2)).
Nhân vật trong chuyện dài nầy là dân ta.
Vấn đề thì nhiều vấn đề rất lớn.
Giải pháp của vấn đề trong câu chuyện dài nầy là tự do ứng cử và tự do bỏ phiếu.
Câu chuyện kế tiếp là Việt Nam trở thành một thể chế tự do, dân chủ và nhân bản hơn cả Đại Hàn và Đài Loan.

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto, Canada

Tham khảo:
1. Robertson C, Clegg G. Storytelling in medicine – How narrative can improve practice. CRC Press 2017.
2. Stein Ringen. The Perfect Dictatorship: China in the 21st Century. Hong Kong University Press 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s