internet-censorship

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto

Hiếm khi trong lịch sử phát triển của nhân loại có quan điểm về tác động xã hội của một công nghệ mới đã nhanh chóng chuyển từ lạc quan sang bi quan như đã xảy ra đối với truyền thông xã hội (social media).

Từng được ca ngợi là một lực lượng lớn để trao quyền tự quyết cho công dân và giải phóng con người, phương tiện truyền thông xã hội và các công cụ kỹ thuật số liên hệ cho phép mọi người tìm kiếm, truy cập, tích lũy và xử lý thông tin, và có khả năng nâng cao quyền tự do và kiến thức của công dân (1). Nhưng các thế lực độc tài đã cố gắng nắm giữ phương tiện truyền thông xã hội và biến nó thành một công cụ để kiểm soát những người bị trị. Trong tay những kẻ độc tài, truyền thông xã hội đã dần trở thành mối đe dọa lớn đối với sự ổn định dân chủ và tự do của con người.

Thí dụ điển hình nhất là đảng cộng sản Trung Quốc. Đảng đang đánh cá rất nhiều vào các phương án tiếp cận toàn diện và tích hợp đối với công nghệ thông tin để gia tăng đàn áp những người bị bóc lột trong toàn bộ công dân (1). Đảng đang triển khai tràn ngập trên nhiều thành phố các máy thu hình giám sát để quay và lưu giữ trên video đời sống hàng ngày của dân, nơi mọi người đi, họ làm gì và họ ở với ai. Được trang bị kho hình ảnh video khổng lồ này từ dân số hơn 1,4 tỷ người, đảng đang tinh chỉnh những gì thường được coi là phần mềm nhận dạng khuôn mặt (facial recognition software) tinh vi nhất trên thế giới để tăng khả năng kiểm soát của đảng lên xã hội. Hệ thống nhận dạng nầy được bổ sung nhận dạng giọng nói, sinh trắc học tiên tiến (advanced biometrics) và bộ sưu tập DNA ngày càng tích cực, cũng như hòa nhập với tất cả dữ liệu cá nhân thu thập từ các công ty công nghệ như Alibaba, Baidu và Tencent để tạo dựng một mạng lưới kiểm soát toàn diện. Trong các phương án nầy, đảng phạm phải vô số vi phạm nhân quyền. Hơn nữa, ở Trung Quốc không có bức tường ngăn cách giữa các công ty công nghiệp và quyền lực của đảng, do đó các công nghiệp lớn trở thành một phần của mạng lưới kiểm soát toàn diện. Mạng lưới kiểm sát nầy được bổ sung với công nghệ quét (scanning technology) mới để có thể nhanh chóng ghi lại toàn bộ khối lượng dữ liệu và nội dung của các cuộc nói chuyện trong điện thoại di động của từng cá nhân.

Kết quả là một phiên bản hiện đại ác mộng của cuốn tiểu thuyết 1984 của George Orwell về một kiểm soát toàn trị trong một cuộc sống không có tự do và một hiện hữu thường xuyên: “Anh Lớn Đang Theo Dõi Bạn” (1). Cái mà đảng đang mong thực hiện là một xã hội và lối sống cho công dân trong đó các cá nhân dường như được tự do đi lại trong cuộc sống hàng ngày của họ, nhưng đảng kiểm soát và kiểm duyệt tất cả các luồng thông tin cá nhân, thái độ và cách hành xữ hàng ngày của họ. Đảng dùng các dữ liệu nầy để đánh giá mọi người với điểm “biên soạn tín dụng xã hội” – điểm số tổng thể về độ tin cậy chính trị và xã hội của từng cá nhân. Những người đồng ý với đảng có thể được cho phép sống bình thường và có thể gia nhập các nhóm lợi ích để trở nên giàu có. Những người đặt câu hỏi và không đồng ý với đảng sẽ phải đối mặt với những hậu quả khắc nghiệt. Họ có thể không bị bắt, vì đảng có thể không cần bắt họ. Nhưng họ sẽ không thể đi du lịch, không thể đưa con đi học trong trường, không thể rời khỏi đất nước. Tệ hơn nữa, đảng dung dưỡng xã hội đen trong việc kiểm soát và đàn áp. Trong nhiều trường hợp, đảng xữ dụng công an trong việc quấy rối việc làm ăn của những người bất đồng chính kiến – cách vận hành nhà nước mà rõ ràng là không hợp pháp và vi phạm nhân quyền. Trong những trường hợp khác, ngay cả khi công dân không tin vào các chính sách và giáo điều của đảng, họ cũng sẽ không dám nói lên sự thật. Đảng cũng dựa vào sức mua bán của toàn dân Trung Quốc để thuyết phục những công ty công nghệ như Google và Facebook hợp tác với đảng trong quá trình này. Tùy theo mức độ hợp tác từ các công ty lớn nầy, hệ thống kiểm soát và tiếp cận toàn diện nầy có thể trở thành một công cụ đàn áp rất hiệu quả và có ý nghĩa sâu sắc đối với quyền tự do cá nhân không chỉ ở Trung Quốc mà trên toàn thế giới.

Trong vài năm qua, Giám đốc điều hành Facebook Mark Zuckerberg đã thực hiện một số giao dịch cao cấp cho Bắc Kinh (2). Vào tháng 12 năm 2014, Zuckerberg đã họp với Lu Wei, khi đó là người đứng đầu Cơ quan quản lý không gian mạng của Trung Quốc, tại trụ sở của Facebook. Trong buổi họp có truyền hình trực tuyến nầy, Zuckerberg đã cố tình trưng bày một phiên bản tiếng Anh của cuốn sách của Chủ tịch Tập Cận Bình trên bàn. Zuckerberg cũng đã gặp Tập Cận Bình vào ngày 25 tháng 9 năm 2015 và yêu cầu Tập chọn một tên tiếng Hoa cho cô con gái sắp chào đời của mình. Vào năm 2016, Thời báo New York Times tiết lộ rằng Facebook đã bí mật làm việc trên phần mềm có khả năng đảm bảo rằng người dùng ở các khu vực cụ thể, ví dụ như ở Trung Quốc, sẽ không bắt gặp một số bài đăng nhất định trong nguồn cấp tin tức của Facebook, một cách kiểm duyệt về nội dung. Facebook rõ ràng đã thực hiện dự án này để đáp ứng các yêu cầu của đảng về kiểm duyệt trực tuyến. Vào tháng 6 2018, vụ việc Facebook đã cấp quyền truy cập dữ liệu cho ít nhất bốn công ty Trung Quốc đã bị đánh dấu bởi tình báo Hoa Kỳ, bao gồm công ty Huawei. Các vụ việc nầy trở thành một trong số các vấn đề trong cuộc chiến thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Facebook không đơn độc trong nỗ lực thâm nhập thị trường Trung Quốc mà đảng tìm cách kiểm soát và thương lượng để các công ty lớn để buột các công ty nầy phải theo một số chính sách của đảng. Vào tháng 8 năm 2018, tờ The Intercept, một tờ báo có chủ trương đối nghịch với các quyền lực tiêu cực, tiết lộ rằng Google đã chuẩn bị một phiên bản đặc biệt của dịch vụ tìm kiếm để sử dụng tại Trung Quốc (2). Sáng kiến bí mật này, có tên là Dự án Dragonfly, đã tạo ra một ứng dụng Android được thiết kế để cho phép Google quay trở lại Trung Quốc bằng cách đáp ứng các yêu cầu chính thức của đảng, bao gồm chặn kết quả tìm kiếm và thậm chí các cụm từ tìm kiếm liên quan đến các chủ đề như tự do ngôn luận, bất đồng chính kiến, dân chủ, nhân quyền, và tôn giáo. Trong dự án nầy, Google có khả năng kết nối giữa người dùng Google để tìm kiếm tin tức về các đề tài khác nhau và số điện thoại di động của họ. Điều nầy là đáng quan ngại bởi vì nếu Google để đảng dùng các công cụ nầy, đảng có thể gia tăng giám sát của nhà nước lên công chúng một cách rộng rãi.

Công chúng ở Hoa Kỳ, u Châu và các nước khác biết được dự án Dragonfly của Google vào tháng 8 năm 2018, khi tờ The Intercept rò rỉ một bản ghi nhớ nội bộ được viết bởi một nhân viên Google về dự án (3). Phản ứng mạnh từ công chúng toàn cầu khiến vài tháng sau, dự án Dragonfly đã “đóng cửa một cách hiệu quả”. Một phần của việc đóng cửa nầy cũng bởi các cuộc đụng độ giữa các nhóm chống đối dự án và các nhóm coi trọng lợi nhuận trong công ty Google. Tuy nhiên, theo các nhân viên của nhóm chống đối, dự án Dragonfly vẫn tiếp tục vào năm 2019 và có khoảng 100 người vẫn được phân bổ để tiếp tục làm việc trong dự án nầy.

Một cuộc thăm dò ý kiến của 27.973 người trưởng thành ở 26 quốc gia, bao gồm 14.306 người dùng Internet, đã được thực hiện cho BBC World Service bởi công ty khảo sát quốc tế GlobeScan bằng điện thoại và phỏng vấn trực tiếp từ ngày 30 tháng 11 năm 2009 đến ngày 7 tháng 2 năm 2010 (4). Cuộc thăm dò cho thấy:

* Mặc dù lo lắng về quyền riêng tư và gian lận, mọi người trên khắp thế giới coi truy cập internet là quyền cơ bản của họ. Họ nghĩ rằng trang mạng là một phương tiện tích cực cho phát triển xã hội, và đại đa số không muốn thấy các chính phủ kiểm soát trang mạng.
* Gần bốn trong năm (78%) người dùng Internet cảm thấy rằng Internet đã mang lại cho họ nhiều tự do hơn.
* Hầu hết người dùng Internet (53%) cảm thấy rằng “Internet không bao giờ phải bị kiểm soát bởi bất kỳ cấp chính quyền nào ở bất cứ nơi đâu”.
* Ý kiến phân chia đồng đều giữa những người dùng Internet, gần phân nữa những người cảm thấy rằng “Internet là nơi an toàn để bày tỏ ý kiến của tôi” (48%) và gần phân nữa những người khác không đồng ý với câu nầy (49%).
* Các khía cạnh của Internet gây lo ngại nhất bao gồm: gian lận (32%), nội dung bạo lực và kích dục rõ ràng (27%), đe dọa đến quyền riêng tư (20%), kiểm duyệt nội dung bởi nhà nước (6%) và mức độ hiện diện của công ty và quảng cáo thương mại (3%).
* Gần bốn trong năm người dùng Internet và không sử dụng Internet trên toàn thế giới cảm thấy rằng truy cập Internet là quyền cơ bản trong nhân quyền (50% đồng ý mạnh mẽ, 29% đồng ý, 9% hơi không đồng ý, 6% không đồng ý và 6% không có ý kiến ).
Vào tháng 5 năm 2011, một báo cáo gửi Hội đồng Nhân quyền của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc của “Báo cáo viên đặc biệt về việc thúc đẩy và bảo vệ quyền tự do ý kiến và bày tỏ” có bao gồm một số khuyến nghị về truy cập Internet (5) :
* Báo cáo viên đặc biệt kêu gọi tất cả các quốc gia đảm bảo rằng việc truy cập Internet luôn được duy trì, kể cả trong thời gian bất ổn chính trị.
* Bản báo cáo cho rằng Internet đã trở thành một công cụ không thể thiếu để thực hiện một loạt các quyền con người, chống lại sự bất bình đẳng, và thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của con người. Bởi vậy, đảm bảo truy cập Internet phổ biến nên là ưu tiên hàng đầu của tất cả các quốc gia. Do đó, mỗi quốc gia nên xây dựng một chính sách cụ thể và hiệu quả, tham khảo ý kiến của các cá nhân thuộc mọi thành phần trong xã hội, bao gồm cả khu vực tư nhân và chính phủ, để cung cấp Internet rộng rãi, dễ tiếp cận và phù hợp với mọi gia tâng trong dân.
Những khuyến nghị này đã dẫn đến gợi ý rằng truy cập Internet nên trở thành một quyền cơ bản của con người, và là một phần của nhân quyền (6).

Tham khảo:
1. Larry Diamond. The Road to Digital Unfreedom: The Threat of Postmodern Totalitarianism. Journal of Democracy Volume 30, Number 1, January 2019, pp. 20-24
2. Xiao Qiang. The Road to Digital Unfreedom: President Xi’s Surveillance State. Journal of Democracy Volume 30, Number 1, January 2019, pp. 53-67.
3. https://www.cnbc.com/2018/06/05/facebook-gave-data-access-to-chinese-firm-flagged-by-us-intelligence.html
4. BBC Internet Poll: Detailed Findings, BBC World Service, 8 March 2010
5. “VI. Conclusions and recommendations”, Report of the Special Rapporteur on the promotion and protection of the right to freedom of opinion and expression, Frank La Rue, Human Rights Council, Seventeenth session Agenda item 3, United Nations General Assembly, 16 May 2011
6. Kravets, David (June 3, 2011). “U.N. Report Declares Internet Access a Human Right”. Wired.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s