Career-Development-768x768.png

Khả năng thể hiện năng lực của một cá nhân để thực hiện một loạt các nhiệm vụ. Khả năng thường là thuộc tính ổn định. Mọi người có thể phát triển hoặc hoàn thiện khả năng theo thời gian.

Các loại khả năng chính là lý luận, đánh giá, đọc và viết. Khả năng lý luận phản ánh năng lực tinh thần để nhận thức. Khả năng vận động liên quan đến các hoạt động cơ bắp và chuyển động cơ thể. Ví dụ về khả năng vận động là thời gian phản ứng, tốc độ phản ứng, độ chính xác, phối hợp và khéo léo. Khả năng thị giác và thính giác, liên quan đến việc phát hiện và nhận biết các kích thích. Khả năng thể chất đề cập đến sức mạnh cơ bắp, sức bền của tim mạch và chất lượng vận động. Những khả năng hữu ích nhất trong việc giải thích cách bạn học, trải nghiệm qua đào tạo, chọn nghề nghiệp và cách sống là khả năng nhận thức.

Quan tâm đến khả năng nhận thức đã tồn tại kể từ khi khái niệm này được giới thiệu lần đầu tiên vào khoảng năm 1904. Một số ứng dụng đầu tiên của kiến thức này diễn ra trong quân đội Hoa Kỳ, thông qua các bài kiểm tra đánh giá khả năng nhận thức. Những năm sau đó đã chứng kiến việc áp dụng các bài kiểm tra khả năng nhận thức vào các cơ sở việc làm dân sự và tư vấn hướng dẫn trong môi trường học đường.

Có một sự đồng thuận rằng các khả năng nhận thức có cấu trúc phân cấp. Trong tất cả các mô hình phân cấp, khả năng nhận thức chung là yếu tố bậc cao nhất. Hầu hết các bài kiểm tra khả năng nhận thức đánh giá khả năng nhận thức chung. Các yếu tố bậc hai của khả năng nhận thức là khả năng định lượng, khả năng chuyên biệt của yếu tố không gian, và khả năng ngôn ngữ. Khả năng chuyên môn trong các yếu tố định lượng là lý luận toán học. Khả năng chuyên biệt của yếu tố không gian bao gồm cách nhận thức khi dữ liệu được trình bày theo khoảng cách và vị trí trong không gian. Một số bài kiểm tra tiêu chuẩn được sử dụng trong các cơ sở giáo dục đánh giá các yếu tố khả năng bậc hai này. Các yếu tố thứ ba được xác định bởi các khả năng chuyên ngành. Các ví dụ về các khả năng chuyên ngành phản ánh khả năng diễn đạt bằng lời nói và viết, suy luận và suy diễn, và thu thập thông tin.

Với cấu trúc phân cấp của khả năng nhận thức, đã có các thử nghiệm về các khả năng chuyên biệt để xác định xem các khả năng này có hiệu quả hơn khả năng nhận thức chung để dự đoán thành công trong công việc. Hầu hết các kiểm tra về khả năng nhận thức được thiết kế để đánh giá khả năng tinh thần chung hơn là khả năng chuyên nghiệp.

Khả năng nhận thức của cá nhân ảnh hưởng đến khả năng học hỏi. Tiếp thu kỹ năng là bước đầu tiên quan trọng trong việc học cách thực hiện các nhiệm vụ mới. Kỹ năng tiếp thu bao gồm ba giai đoạn: nhận thức, liên kết và tự trị. Khả năng nhận thức có ảnh hưởng nhất trong giai đoạn đầu tiên, xảy ra khi các cá nhân lần đầu tiên đối mặt với nhiệm vụ mới. Giai đoạn đầu tiên đặt ra những yêu cầu lớn nhất đối với khả năng tinh thần. Hiệu suất trong nhiệm vụ tăng lên với thực hành và với tốc độ nhanh hơn cho những cá nhân có khả năng nhận thức cao.

Mức độ quan trọng bởi khả năng nhận thức trong quá trình thu nhập kỹ năng phụ thuộc vào loại nhiệm vụ mà một cá nhân đang cố gắng học. Nhiệm vụ có thể là nhất quán hoặc thay đổi. Nhiệm vụ nhất quán có thể được học và trở thành tự động hoặc thường xuyên với thực hành. Mối tương quan giữa khả năng nhận thức và hiệu suất làm việc giảm đi với các nhiệm vụ nhất quán. Ngược lại, các nhiệm vụ thay đổi vẫn giữ được tính mới lạ theo thời gian và khó có thể trở thành thói quen. Mối quan hệ giữa khả năng nhận thức và hiệu suất làm việc vẫn tích cực và mạnh mẽ ngay cả sau khi thực hành với các nhiệm vụ thay đổi. Do đó, mức độ liên kết giữa khả năng nhận thức và hiệu suất làm việc phụ thuộc vào tính nhất quán của nhiệm vụ và giai đoạn tiếp thu kỹ năng.

Môi trường học đường là một trong những môi trường đầu tiên trong đó các cá nhân thu thập các kỹ năng cơ bản và phát triển các kỹ năng này đến cấp độ cho phép họ hoạt động hiệu quả trong xã hội. Những năm đầu ở trường là những năm hình thành nhất, trong đó các kỹ năng cơ bản về đọc, viết và số học được tiếp thu và phát triển. Việc học tiếp theo ở trường trung học, đại học và nghiên cứu sau đại học là cần thiết cho sự phát triển các kỹ năng chuyên ngành và tiếp thu kiến thức chuyên ngành.

Khả năng nhận thức chung ảnh hưởng đến thành tích của một cá nhân trong mỗi giai đoạn phát triển học thuật này. Cụ thể hơn, khả năng nhận thức chung giải thích khoảng 36 phần trăm đến 49 phần trăm biến thể của các lớp học ở trường tiểu học, 25 phần trăm đến 36 phần trăm ở trường trung học, và 16 phần trăm đến 25 phần trăm ở đại học. Hơn nữa, khả năng nhận thức chung giải thích sự thay đổi đáng kể trong nhiều chỉ số thành công trong các nghiên cứu sau đại học. Ví dụ, điểm số của một cá nhân trong các bài kiểm tra khả năng nhận thức chung dự đoán việc đạt được bằng tốt nghiệp, thời gian cần thiết để tốt nghiệp, năng suất nghiên cứu, điểm số trong các kỳ thi.

Thành công trong lĩnh vực học thuật trang bị cho cá nhân những kiến thức và kỹ năng cần thiết để hoạt động trong xã hội. Khả năng nhận thức chung tiếp tục giải thích sự thay đổi trong kết quả cuộc sống ngay cả sau khi đi học. Môi trường công việc là một bối cảnh khác trong đó khả năng nhận thức chung là tích cực trong việc đóng góp của cá nhân. Khả năng nhận thức chung dự đoán hiệu suất công việc trong cả môi trường dân sự và quân sự.

Hiệu suất công việc thường được đánh giá trên các thành phần khác nhau. Thành phần đầu tiên là hiệu suất tác vụ, đại diện cho các chức năng cốt lõi của công việc. Thành phần thứ hai là khả năng tổ chức trong công việc và môi trường làm việc. Thành phần thứ ba, được dán nhãn hành vi làm việc phản tác dụng, đại diện cho các hành vi tiêu cực làm mất tập trung vào các mục tiêu của tổ chức. Khả năng nhận thức là một yếu tố dự báo mạnh mẽ hơn về hiệu suất tác vụ so với khả năng tổ chức trong môi trường làm việc, hoặc hiệu suất công việc phản tác dụng. Tuy nhiên, khả năng nhận thức là một yếu tố dự báo quan trọng của cả ba thành phần của hiệu suất công việc.

Một cân nhắc quan trọng đối với bất kỳ cấu trúc nào được sử dụng để đưa ra quyết định lựa chọn vào các chương trình giáo dục hoặc môi trường nghề nghiệp là cấu trúc đó (trong trường hợp này là khả năng nhận thức chung) phải công bằng hoặc không thiên vị đối với các thành viên thuộc chủng tộc, lịch sử gia đình, thu nhập gia đình hoặc giới tính. Điều nầy là chủ định cho sự phát triển một xã hội bình đẳng.

Một thành phần quan trọng trong sự phát triển nghề nghiệp của cá nhân là đào tạo. Khi các cá nhân có được thông tin xác thực và bằng cấp, họ có quyền truy cập vào các chương trình đào tạo nghề nghiệp tương ứng. Cá nhân dần dần sở hửu kiến thức về công việc từ các chương trình đào tạo và kinh nghiệm trong thực hành công việc. Khả năng nhận thức đóng góp từ 25 phần trăm đến 58 phần trăm biến thể trong hiệu suất tổng thể trong các chương trình đào tạo nghề.

Các lý thuyết về phát triển nghề nghiệp tập trung vào quá trình chọn người cho thích hợp với công việc. Những lý thuyết này dựa trên giả định rằng mỗi cá nhân sở hữu một sự kết hợp độc đáo giữa sở thích, năng khiếu và đặc điểm cá nhân. Một câu hỏi quan trọng là làm sao dựa vào các giả định nầy để chọn lựa các cá nhân phù hợp với các nhóm công việc cụ thể. Khả năng nhận thức đóng vai trò quan trọng trong quá trình kết hợp các cá nhân với công việc.

Các yếu tố nhận thức chuyên như lý luận toán học, năng khiếu diễn giải và năng khiếu chuyên biệt của yếu tố không gian có ảnh hưởng đến tốt nghiệp đại học và sau đại học. Cụ thể hơn, những cá nhân có năng khiếu diễn giải có xu hướng theo đuổi sự nghiệp trong pháp luật và nhân văn. Những cá nhân có năng lực định lượng thường theo đuổi sự nghiệp trong y học và khoa học xã hội và sinh học. Những cá nhân có cả năng lực định lượng và năng khiếu chuyên biệt của yếu tố không gian thường theo đuổi sự nghiệp trong kỹ thuật và khoa học “cứng”.

Ngoài việc kiên trì và kỷ luật mà các cá nhân ứng dụng vào con đường mà họ chọn, khả năng nhận thức cũng ảnh hưởng đến các chiến lược công việc rộng lớn mà họ chọn. Các công việc mang tính chất quan liêu có rủi ro thấp, bảo đảm việc làm, ổn định việc làm, đào tạo nghề và lương hưu. Các công việc kinh doanh nhấn mạnh đến sự tự túc, kiểm soát và quyết định trong công việc, tham vọng và đánh đổi rủi ro để tối đa hóa thu nhập. Các cá nhân có khả năng nhận thức cao thể hiện sự ưa thích đối với các đặc tính công việc của doanh nhân.

Tiếp thu kỹ năng sớm, thành tích trong môi trường học đường, hiệu quả công việc và thành công trong các chương trình đào tạo nghề nghiệp là những bước quan trọng trong sự phát triển của sự nghiệp. Khả năng nhận thức tiếp tục đóng một vai trò trong các kết quả quan trọng trong quá trình này. Khả năng nhận thức ảnh hưởng đến sự hài lòng về nghề nghiệp và sự hài lòng trong công việc của cá nhân. Sự hài lòng nghề nghiệp đề cập đến sự tiến bộ nghề nghiệp, thăng tiến nghề nghiệp và triển vọng nghề nghiệp trong tương lai. Sự hài lòng trong công việc đề cập đến sự hài lòng với lương, đồng nghiệp, lợi ích, công việc và người giám sát. Năng cao khả năng nhận thức là một biến thái tích cực trong quá trình học, đào tạo và trong khi đi làm.

Tác động của khả năng nhận thức đến kết quả cá nhân là phổ biến ngay cả trong cuộc sống bên ngoài công việc. Năng lực của một cá nhân để tự quản lý và hoạt động hiệu quả trong xã hội hàng ngày bị ảnh hưởng phần lớn bởi khả năng nhận thức. Nhiều nhiệm vụ mà các cá nhân phải thực hiện trong cuộc sống hàng ngày có yêu cầu xử lý thông tin cao, đòi hỏi khả năng nhận thức. Khả năng hiểu môi trường xung quanh, đọc và viết ảnh hưởng đến hiệu quả của chúng ta trong việc thích nghi với cuộc sống. Mức độ chúng ta có thể xử lý tiền, tham gia vào xã hội và hiểu các tài liệu ngân hàng, thông tin y tế và các vấn đề chính trị bị ảnh hưởng bởi khả năng nhận thức của chúng ta.

Tầm quan trọng của khả năng nhận thức ở từng giai đoạn trong cuộc sống và sự phát triển nghề nghiệp sẽ tạo ra cơ hội thành công cao hơn cho những cá nhân có khả năng nhận thức cao, và cơ hội hạn chế và ít thành công hơn cho những cá nhân có khả năng nhận thức thấp. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải xem xét các yếu tố khác ngoài khả năng nhận thức. Những yếu tố này ảnh hưởng đến kết quả công việc và cuộc sống. Các đặc điểm như tính cách cá nhân, nền tảng gia đình và tình trạng kinh tế xã hội cũng được biết là có ảnh hưởng đến sự thành công trong môi trường giáo dục, công việc và trong cuộc sống hàng ngày. Điều quan trọng là xem xét cách các yếu tố này tương tác với khả năng nhận thức ảnh hưởng đến kết quả công việc và cuộc sống của cá nhân.

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto-Canada

Tài liệu: Maria Rotundo. Ability. In: Jeffrey H. Greenhaus & Gerard A. Callanan. Encyclopedia of Career Development. Sage Publication, 2006.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s