Nhóm quân phiệt vẫn đang lãnh đạo Myanmar chứ không phải bà Aung San Suu Kyi. Ảnh Reuteurs
Nhóm quân phiệt vẫn đang lãnh đạo Myanmar chứ không phải bà Aung San Suu Kyi. Ảnh Reuteurs

Trong hơn một thập kỷ, công chúng, các học giả về quan hệ quốc tế, và các nhà thực hành chính sách thường hiểu mối quan hệ giữa các tổ chức quốc tế và dân chủ hóa là một mối quan hệ tích cực, với các tổ chức quốc tế có khuynh hướng ủng hộ các hoạt động để thúc đẩy dân chủ. Theo cách hiểu này, các tổ chức quốc tế tôn trọng và ủng hộ các nguyên tắc dân chủ.

Các nguyên tắc nầy bao gồm các quy tắc của pháp luật, bảo vệ quyền của công dân, duy trì trật tự và hạn chế quyền lực quá đáng của chính phủ. Các nguyên tắc nầy cũng bao gồm nguyên tắc rằng mọi công dân đều bình đẳng theo luật pháp. Quan trọng nhất là nguyên tắc khẵng định rằng không ai có thể bị phân biệt đối xử vì giới tính, chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, và định hướng chính trị.

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một tổ chức quốc tế. Nhưng ASEAN không thúc đẩy dân chủ. Ngược lại, ASEAN đã làm việc để bảo vệ và củng cố các chế độ thành viên độc đoán của họ khỏi áp lực dân chủ hóa. ASEAN đã củng cố các chế độ thành viên độc đoán bằng cách thêm sức mạnh để đàn áp, sử dụng các chiến thuật đồng tham gia để hạn chế các nỗ lực dân chủ và hợp pháp hóa các chế độ thành viên độc đoán ở cả cấp độ trong nước và quốc tế.

Bằng chứng định tính cho thấy ASEAN đóng góp thành công nhất vào việc tạo hình ảnh tốt cho các quốc gia độc tài, thêm phương tiện và phương pháp vào bộ công cụ mà các nước theo thể chế độc tài có thể dùng trong đàn áp, đặc biệt là bằng cách khéo léo thúc đẩy các xã hội dân sự vào một cấu trúc được thiết lập và duy trì bởi chính quyền độc đoán (1). ASEAN cũng hợp thức hóa sự cai trị độc đoán, và thúc đẩy sự hỗ trợ tu từ lẫn nhau ở cấp độ quốc tế, thách thức dân chủ như một chuẩn mực quản trị tích cực, và giảm cơ hội thành công bởi các cuộc nổi dậy từ dân trong đấu tranh cho dân chủ.

Kể từ khi thành lập vào năm 1967, ASEAN đã trở thành nền tảng chính trị khu vực ở Đông Nam Á. Tất cả các thành viên sáng lập ASEAN đều được cai trị bởi những thể chế độc tài xây dựng các hệ thống chính trị độc đoán. Trong năm 1990, ASEAN đã mở rộng với năm quốc gia khác, tất cả đều là những nước không dân chủ. ASEAN tạo ra đức tính không can thiệp và không thể hiện sự quan tâm đến cách một chính phủ của một nước thành viên thực sự cai trị trong lãnh thổ của mình. Dân chủ và quản trị tốt đều chưa từng là điều kiện tiên quyết để trở thành thành viên ASEAN. ASEAN nhấn mạnh vào chính trị tham vấn và đồng thuận, và kết quả là sự khoan dung cao của tổ chức “quốc tế” nầy trong việc thúc đẩy mối quan hệ tốt giữa các thành viên, bất kể chế độ thành viên đó đối xử (hoặc ngược đãi) dân chúng của họ như thế nào. Đây là cái được gọi là “Cách thức ASEAN”.

ASEAN cung cấp một cam kết gần như không lay chuyển để không can thiệp. Là một tổ chức “quốc tế”, ASEAN đóng vai trò lá chắn cho các quốc gia thành viên. ASEAN chưa bao giờ có một cánh tay an ninh có khả năng can thiệp vào một quốc gia thành viên, mặc dù các cuộc họp nghị sự thường nói về khó khăn của các quốc gia thành viên với các cuộc nổi dậy vũ trang và các phong trào ly khai. ASEAN đã thiết lập một khuôn khổ của các luật chống khủng bố. Khuôn khổ nầy hỗ trợ các thành viên với thể chế độc tài trong đàn áp xã hội dân sự dưới ngôn từ “khủng bố”. Khuôn khổ nầy hầu như chứa đựng các điều khoản sao chép từ an ninh nội bộ bởi các nhà cầm quyền chuyên chế.

ASEAN cung cấp một loạt các lợi ích đồng lựa chọn, tạo điều kiện cho các kế hoạch phát triển và tự do hóa kinh tế để duy trì thể chế của các quốc gia thành viên. ASEAN cúng rất khéo léo đưa các phần của xã hội dân sự dưới sự bảo trợ của ASEAN vào “khuôn khổ”, hạn chế quyền lực của xã hội dân sự để tranh đấu cho dân chủ.

ASEAN cũng xuất sắc trong việc nói với một tiếng nói đồng thuận trong tổ chức nầy với thế giới bên ngoài.  ASEAN đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc cung cấp hỗ trợ chung cho các thành viên của mình cả trong các tuyên bố truyền thông và tại các cơ quan quốc tế như Liên Hợp Quốc, và bao quát một cách hiệu quả các hoạt động độc đoán theo “cách thức ASEAN” (1). ASEAN lặng lẽ hợp pháp hóa các hành động của các thành viên thông qua một hệ thống các quy tắc khác nhau và bảo vệ các chế độ thành viên của mình khỏi các hình thức can thiệp từ bên ngoài.

Các ví dụ về cách ASEAN đối phó với các cuộc khủng hoảng ở Myanmar minh họa cho cam kết của tổ chức đối kháng với các nguyên tắc dân chủ (1). Trong năm 2007 và 2008, Myanmar, đã phải đối mặt với hai cuộc khủng hoảng liên tiếp – một cuộc cách mạng màu từ toàn dân và một thảm họa thiên nhiên. Tập đoàn cầm quyền đã phạm phải các sai lầm trong quản lý thiên tai và điều nầy đã làm cho tập đoàn khó có thể giải quyết có hiệu quả cuộc cách mạnh màu từ dân. Trong cả hai trường hợp, ASEAN ủng hộ chế độ ở Myanmar, che chở chính quyền quân phiệt khỏi những chỉ trích quốc tế khắc nghiệt nhất và ủng hộ chính quyền quân phiệt để tập đoàn nầy tiếp tục nắm quyền.

Trong một số hoạt động, xã hội dân sự đang làm việc với ASEAN. Tuy vậy có một điều cần nhấn mạnh để khỏi nhầm lẫn – ASEAN là một thế lực với mục đích duy trì độc tài và gia đình trị ở Đông Nam Á.

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto, Canada

Tài liệu: 1. Farmer, L. A. (2016). Bastions against the fourth wave: Toward a theory of authoritarian organizations. Available from ProQuest Dissertations & Theses Global.

Advertisements

2 thoughts on “ASEAN có duy trì độc tài và gia đình trị ở Đông Nam Á không?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s