Ga tàu Onehunga trrong thế kỷ XX
Ga tàu Onehunga trrong thế kỷ XX

Bài này xem xét làm thế nào một nghiệp đoàn có thể trở nên hiệu quả bằng cách ảnh hưởng tích cực đến thái độ của cộng đồng, và cải thiện môi trường hoạt động của nghiệp đoàn (1). Bài này là tiếp nối của các bài viết trước liên quan đến việc sử dụng nghiên cứu khoa học hành vi trong việc xây dựng nghiệp đoàn (2-3).

Tầm quan trọng của thái độ

Hành vi của người dân được hình thành bởi thái độ của họ (1). Các nhà khoa học định nghĩa “thái độ” của một người là đánh giá thuận lợi hoặc bất lợi liên quan đến các đối tượng, con người hoặc sự kiện. Khi một người nói, “tôi thực sự thích công việc của mình”, hay “đảng đầy tham nhũng”, người nầy đang bày tỏ thái độ hoặc niềm tin. Các cá nhân không được sinh ra với một thái độ cố định; thay vào đó, thái độ được phát triển bởi những ảnh hưởng, thông tin và kinh nghiệm mà mọi người tiếp xúc. Nhận định nầy cũng đề xuất rằng những trải nghiệm mới hoặc thông tin mới có thể thay đổi thái độ của một người. Khi áp dụng vào việc hoạt động của nghiệp đoàn, những phát hiện này cho thấy rằng nếu sự tham gia vào nghiệp đoàn là những hành vi mà nghiệp đoàn muốn khuyến khích, nghiệp đoàn cần tập trung nỗ lực vào việc thúc đẩy những thái độ liên hệ để dẫn đến hành vi tham gia mong muốn của những người trong cộng đồng mà nghiệp đoàn muốn thu hút. Một vài ví dụ sau đây có thể làm rõ tầm quan trọng của thái độ.

Ví dụ:  Khối nghiệp đoàn Viêm Việt tiếp tục đặt câu hỏi i) tại sao hệ thống công đoàn quốc doanh rút một số tiền rất lớn bằng 3% tính trên quỹ lương được hạch toán của doanh nghiệp? và ii) hệ thống công đoàn quốc doanh mà đại diện là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã làm gì cho người lao động với số tiền đó? (4) Tiếp tục đặt các vấn đề về tính chính danh của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng cố tiền đề là cần có cạnh tranh trong việc đại diện và bảo vệ quyền lợi của người lao động. Nó cũng tạo điều kiện cho người lao động chọn lựa và tham gia vào Khối nghiệp đoàn Viêm Việt.

Cam kết tham gia vào nghiệp đoàn của các thành viên tập hợp nhiều thái độ và ý kiến về nghiệp đoàn và kinh nghiệm của thành viên khi sinh hoạt với nghiệp đoàn (1). Cam kết nầy liên quan chặt chẽ đến việc tham gia vào các hoạt động nghiệp đoàn. Về mặt chiến lược, điều này cho thấy rằng nếu một nghiệp đoàn mong muốn trở nên hiệu quả hơn thông qua việc tăng cường sự tham gia của thành viên, nghiệp đoàn có thể làm như vậy bằng cách nâng cao mức độ cam kết tham gia của các thành viên. Các yếu tố được phát hiện có liên quan mật thiết đến cam kết tham gia vào nghiệp đoàn mà có thể bị ảnh hưởng bởi cách hoạt động của nghiệp đoàn và đại diện của nghiệp đoàn bao gồm i) thái độ của cá nhân về nghiệp đoàn nói chung và ii) niềm tin của người ấy về một nghiệp đoàn cụ thể mà nghiệp đoàn ấy đang cố gắng đại diện cho người đó.

Ví dụ: Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam chủ động để nối kết với các sinh viên với quá trình tranh đấu cho quyền lợi của sinh viên, thí dụ như việc chị Huỳnh Lê Bảo Trân gia nhập Nghiệp đoàn sau khi chị ấy thành công trong việc thuyết phục trường Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp giấy xác nhận vay vốn ngân hàng không thông qua địa phương (5). Nghiệp đoàn sinh viên cũng vận động các trường đại học cho sinh viên trả góp học phí để bảo vệ các sinh viên nghèo (5). Các hoạt động nầy tạo điều kiện để sinh viên thấy rằng Nghiệp đoàn sinh viên thực sự dấn thân để đại diện quyền lợi của sinh viên.

Các nghiệp đoàn và các nhà lãnh đạo nghiệp đoàn có thể ảnh hưởng tích cực đến thái độ và niềm tin của cá nhân trong cộng đồng mà nghiệp đoàn đang hoạt động (1). Bằng cách đó, mức độ cam kết của cá nhân đối với nghiệp đoàn cũng gia tăng và khả năng tham gia vào công việc của nghiệp đoàn sẽ tăng lên. Điều này có thể xảy ra trong một loạt các môi trường hoạt động của nghiệp đoàn, bao gồm cơ cấu tổ chức địa phương, chương trình xã hội, định hướng cho các hoạt động, chương trình hành động chính trị và thủ tục khiếu nại. Thêm vào đó, giá trị của các kỹ năng giao tiếp, thông tin và các hoạt động xây dựng hình ảnh trong việc gây ảnh hưởng tốt của nghiệp đoạn đến mọi người trong cộng đồng cũng là cách nghiệp đoàn xây dựng sự ũng hộ tích cực từ thành viên và không thành viên trong các hoạt động của nghiệp đoàn.  

Ví dụ: Để nâng cao nghiệp vụ của dân làm báo và các phóng viên mới ra nghề, Nghiệp đoàn báo chí tiếp tục tổ chức các lớp huấn luyện cho người thích làm báo và phát động giải thưởng phóng viên điều tra xuất sắc nhất Việt Nam (6).

Vai trò của môi trường

Môi trường cũng sẽ ảnh hưởng đến hành vi và cách cư xử của cá nhân (1). Các khía cạnh của môi trường là xã hội, chính trị, kinh tế, tổ chức và thể chất. Tổ chức có thể là môi trường có ảnh hưởng liền nhất đối với hành vi của một người. Trong tất cả các khía cạnh khác nhau của môi trường, các nghiệp đoàn có quyền kiểm soát nhiều nhất đối với môi trường tổ chức của chính nghiệp đoàn. Nếu các nhà lãnh đạo nghiệp đoàn có thể tạo ra một môi trường để khuyến khích và khen thưởng sự tham gia và hỗ trợ của các thành viên và không thành viên, lãnh đạo nghiệp đoàn có thể khuyến khích hành vi có lợi nhất cho nghiệp đoàn. Các cơ cấu và lãnh đạo nghiệp đoàn có thể làm điều này bằng cách xây dựng một nền văn hóa nghiệp đoàn mạnh mẽ.

Ví dụ: Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam có tư tưởng chủ đạo là trung thực và bác ái (7). Nghiệp đoàn đưa tin trung thực, và nếu thỉnh thoảng có sai sót một vài chỗ thì đó cũng là nhầm lẫn trung thực và Nghiệp đoàn sẽ nhanh chóng hiệu đính để bài báo đạt chuẩn sự thật khách quan cao nhất.

Thái độ của các thành viên nói chung, và sự cam kết tham gia và sự tham gia của họ nói riêng có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi một nền văn hóa của tổ chức (1). Hầu hết các nhà lãnh đạo nghiệp đoàn nhận ra sự cần thiết phải tạo ra một môi trường tổ chức, trong đó các giá trị và mục tiêu của tổ chức được thúc đẩy và hỗ trợ. Các nghiệp đoàn và các nhà lãnh đạo có thể tạo ra các môi trường như vậy một cách hiệu quả hơn nếu họ nhận ra một cách rõ ràng vai trò của các nghi lễ, điều cấm kỵ, mô hình đáng nêu gương, chuyện và truyện liên hệ đến lịch sử của nghiệp đoàn, thần thoại, biểu tượng và ngôn ngữ trong biểu tượng và tổ chức của họ. Bằng cách nhận ra các yếu tố này, các nhà lãnh đạo có thể giám sát các tổ chức của họ và can thiệp khi cần thiết để củng cố hoặc thay đổi văn hóa của tổ chức. Khi làm như vậy, họ đang thực hiện một bước quan trọng để xây dựng các nghiệp đoàn hiệu quả.

Ví dụ: Nghiệp đoàn sinh viên được chỉ đạo bởi khoảng 50% nữ và 50% nam sinh viên. Nghiệp đoàn trân trọng bình đẵng nam nữ. Nghiệp đoàn thường xuyên trích và dẫn nhập các thí dụ về bình đẵng xã hội. Xin xem bài “Nam sinh chấm điểm nhan sắc nữ sinh – Nữ sinh biểu tình phản đối” (8).

Ví dụ: Những sinh viên của Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Lương Kim Định, nhằm bảo tồn văn hóa dân tộc và đề xuất thiết kế một nền quốc học cho Việt Nam tương lai gần (9). Qua việc dấn thân nầy, Nghiệp đoàn sinh viên có tầm nhìn và nhận định trùng hợp với lịch sữ dân tộc và tạo điều kiện để cộng đồng sinh viên thấy rằng chủ nghĩa Mác-Lê là ngoại lai.

Một yếu tố môi trường quan trọng khác có tiềm năng quan trọng trong việc ảnh hưởng đến thái độ, niềm tin và cam kết tham gia từ cộng đồng là vai trò của lãnh đạo (1). Có một sự liên tục của các phong cách lãnh đạo, từ lãnh đạo giao dịch và chuyển đổi (bên dưới). Lãnh đạo chuyển đổi có tiềm năng để tăng sự cam kết và tham gia từ thành viên và cộng đồng. Do đó, phong trào lao động cần khuyến khích lãnh đạo chuyển đổi như một công cụ quan trọng trong việc mang lại sự thay đổi mà nghiệp đoàn mong muốn.

Lãnh đạo giao dịch là một cách tiếp cận truyền thống và dễ dàng tìm thấy trong phong trào lao động. Kiểu lãnh đạo này thúc đẩy mọi người bằng cách sử dụng phần thưởng và hình phạt (1). Một nhà lãnh đạo giao dịch xác định vai trò của các thành viên, quy định của tổ chức mà thành viên phải đóng góp để định đạt các mục tiêu, khích lệ hoặc nhắc nhỡ thành viên về vai trò của họ trong tổ chức. Tổ chức nào cũng cần các nhà lãnh đạo giao dịch để quản lý tổ chức trong các dịch vụ cố định. Thêm vào đó, các nhà lãnh đạo chuyển đổi tập trung nỗ lực của họ vào việc truyền đạt các mục tiêu của nhóm tới các thành viên của tổ chức và thuyết phục các thành viên đặt các mục tiêu đó lên trên mục tiêu riêng của họ. Theo nghĩa này, một nhà lãnh đạo như vậy làm cho các thành viên nhìn xa hơn lợi ích cá nhân, hoạt động tích cực vì lợi ích của nhóm. Kiểu nhà lãnh đạo này hoạt động để biến đổi văn hóa tổ chức, thấm nhuần các giá trị mới và thách thức các thành viên làm nhiều hơn những gì đã được yêu cầu trước đây.

Ví dụ: Trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ cộng sản ở Ba Lan của Công đoàn Đoàn Kết, ông Lech Walesa có thể được coi là một lãnh tụ chuyễn đổi với một vai trò lãnh đạo đã làm thay đổi lịch sữ (10).

Xây dựng các nghiệp đoàn hiệu quả hơn một cách có hệ thống

Hầu như mọi khía cạnh của hoạt động nghiệp đoàn đều thể hiện một cơ hội để xây dựng một nghiệp đoàn hiệu quả hơn (1). Một chiến lược xây dựng nghiệp đoàn tối ưu sẽ đòi hỏi một nghiệp đoàn và các nhà lãnh đạo xem xét mọi quyết định, hành động và hoạt động của tổ chức như một cơ hội để tác động đến thái độ của các thành viên và xây dựng cam kết và lòng tin vào nghiệp đoàn. Tất nhiên, điều này rất khó thực hiện khi một nghiệp đoàn liên tục phải đối phó với khủng hoảng, khi nghiệp đoàn không có đủ nguồn lực con người hoặc tài chính để giải quyết các vấn đề trong tay, và khi nghiệp đoàn liên tục đấu tranh cho chính sự tồn tại của nghiệp đoàn. Để vượt qua những thách thức này, phong trào lao động ngày càng sử dụng một công cụ được sử dụng thành công trong nhiều năm bởi các tổ chức khác. Công cụ đó là hoạch định chiến lược.

Khái niệm về chiến lược, hoặc lập kế hoạch tầm xa, từng được xem xét với sự hoài nghi từ các nhà hoạt động nghiệp đoàn (1). Một nghiên cứu vào những năm 1980 cho thấy chỉ 25% các nghiệp đoàn Bắc Mỹ thiếp lập kế hoạch tầm xa. Các cuộc khảo sát được thực hiện tại Hoa Kỳ vào năm 1990 và ở Canada vào năm 1993 cho thấy việc sử dụng kế hoạch chiến lược ngày càng tăng, với 40% (Hoa Kỳ) và 58% (Canada) của các nghiệp đoàn quốc gia ở hai nước xử dụng công cụ này. Đến năm 2000, tỷ lệ các nghiệp đoàn Hoa Kỳ tham gia hoạch định chiến lược đã tăng lên 67%.

Các tổ chức lao động, ở tất cả các cấp, có khuynh hướng bị động trong cách hoạt động, đa phần là phản ứng theo sự kiện đang xảy ra (1). Ví dụ một công đoàn khởi sự thủ tục khiếu nại trùng hợp với phản ứng không hài lòng của công nhân đối với quản trị nhà máy. Họ nộp đơn khiếu nại để phản ứng với việc quản lý vi phạm hợp đồng. Phong trào lao động đã có xu hướng chờ đợi cho đến khi thành viên bị tấn công trước khi công đoàn phản ứng. Bởi vậy cách làm việc nầy dẫn đến các chiến lược thụ động trong hoạt động của công đoàn.

Ngược lại, hoạch định chiến lược là một quá trình chủ động hướng đến tương lai và cố gắng lường trước những thách thức mà một nghiệp đoàn sẽ phải đối mặt (1). Quá trình này cũng xác định một cách có hệ thống các cách thức mà một tổ chức có thể theo đuổi nhiệm vụ của mình và đạt được các mục tiêu của mình khi đối mặt với những thách thức đó. Các ví dụ về kế hoạch hướng tới tương lai như vậy có rất nhiều trong phong trào lao động. Kể từ đó, nhiều nghiệp đoàn quốc gia đã thành lập các ủy ban về tương lai để giúp họ phát triển các kế hoạch chiến lược cho những năm tới. Các cách hoạch định nầy nên bao gồm việc xem xét tầm quan trọng của sự tham gia của các thành viên, liên hệ giữa thái độ và hành động của các thành viên, và cân nhắc về cá nhân và môi trường trên các khía cạnh liên hệ về cấu trúc, văn hóa và lãnh đạo.

Ví dụ: Nghiệp đoàn sinh viên  Việt Nam là tập hợp những sinh viên người Việt trong nước và hải ngoại có ước mong Cải cách học thuật – Minh bạch giảng đường –  Tái thiết đất nước (11). Để đạt được điều đó, Nghiệp đoàn đã và đang kiên trì thiếp lập và thực hiện những chương trình hành động. Những chương trình này vận động chủ yếu dựa trên sức trẻ, sức sáng tạo vô hạn của sinh viên Việt Nam.

Những hiểu biết trên và các chiến lược cần phải được thực hiện trên cơ sở hệ thống (1). Lý tưởng nhất, các nghiệp đoàn và các nhà lãnh đạo ở tất cả các cấp, nên có ý thức cố gắng xem xét ảnh hưởng mỗi quyết định, hành động và hoạt động của nghiệp đoàn lên thái độ và cam kết tham gia của thành viên nói chung và cộng đồng trên tổng thể. Những cân nhắc quan trọng như vậy không nên để xãy ra dựa vào cơ hội. Để đối phó hiệu quả với những thách thức mà nghiệp đoàn phải đối mặt, phong trào lao động phải lợi dụng tích cự mọi nguồn lực có sẵn về tổ chức nghiệp đoàn. Khoa học hành vi là một trong những tài nguyên mà nghiệp đoàn có thể sử dụng để tăng lợi thế của nghiệp đoàn trong hoàn cảnh và hoạt động của nghiệp đoàn.

Tiến sĩ Phạm Đình Bá, đại học Toronto, Canada

Tài liệu

  1. Clark, Paul F. Building More Effective Unions, Cornell University Press, 2009.  
  2. Khoa học hành vi và hiệu quả công đoàn. https://nghiepdoanbaochi.org/2019/02/02/khoa-hoc-hanh-vi-va-hieu-qua-cong-doan/
  3. Hiệu quả của công đoàn là gì? https://nghiepdoanbaochi.org/2019/02/05/hieu-qua-cua-cong-doan-la-gi/
  4. Vì sao người lao động không quan tâm tới công đoàn? https://nghiepdoanbaochi.org/2019/02/12/vi-sao-nguoi-lao-dong-khong-quan-tam-toi-cong-doan/
  5. Nghiệp đoàn sinh viên vận động các trường đại học cho sinh viên trả góp học phí. https://nghiepdoansinhvien.org/2019/03/15/nghiep-doan-sinh-vien-van-dong-cac-truong-dai-hoc-cho-sinh-vien-tra-gop-hoc-phi/
  6. Phát động giải thưởng phóng viên điều tra xuất sắc nhất Việt Nam năm 2018. https://nghiepdoanbaochi.org/2018/05/18/giai-thuong-phong-vien-dieu-tra-xuat-sac-nhat-viet-nam-nam-2018/
  7. Trung thực và bác ái là nền tảng tư tưởng của Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam. https://nghiepdoanbaochi.org/2018/10/15/trung-thuc-va-bac-ai-la-nen-tang-tu-tuong-cua-nghiep-doan-bao-chi-viet-nam/#more-2277
  8. Nam sinh chấm điểm nhan sắc nữ sinh – Nữ sinh biểu tình phản đối https://nghiepdoansinhvien.org/2019/03/28/nam-sinh-cham-diem-nhan-sac-nu-sinh-nu-sinh-bieu-tinh-phan-doi/
  9. Vì sao chúng tôi gấp rút thành lập Trung tâm nghiên cứu Lương Kim Định? https://nghiepdoansinhvien.org/2018/09/16/vi-sao-phai-gap-rut-thanh-lap-trung-tam-nghien-cuu-luong-kim-dinh/
  10. Lech Wałęsa. https://en.wikipedia.org/wiki/Lech_Wa%C5%82%C4%99sa
  11. Những chương trình hành động của Nghiệp đoàn sinh viên Việt Nam https://nghiepdoansinhvien.org/project/

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s