Một bệnh viện ở Thái Lan. Ảnh tư liệu
Một bệnh viện ở Thái Lan. Ảnh tư liệu

Bài nầy tìm hiểu xem các thành viên của xã hội dân sự với lịch sử đấu tranh chống chuyên chế có thể trở thành các quản trị viên hiệu quả trong một Việt Nam tự do và dân chủ trong tương lai hay không.

Thái Lan

Sau khi bắt đầu chương trình chăm sóc y tế miễn phí vào năm 1975, một vài thành viên chính sách trong Bộ Y tế Công Cộng bắt đầu thiết kế, xây dựng và triển khai chương trình “chăm sóc y tế toàn dân” vào giữa những năm 1980 (1). Các thành viên nầy là những cựu lãnh đạo sinh viên đã tranh đấu chống lại độc tài quân đội trong những năm 1970 và các nhà lãnh đạo của Hiệp hội Bác sĩ Nông thôn. Ngoài việc làm việc để mở rộng bảo hiểm y tế, các nhà lãnh đạo xã hội dân sự nầy đã giúp ủy ban y tế quốc hội soạn thảo Dự luật bảo hiểm y tế quốc gia vào đầu những năm 1990. Tuy nhiên, do những thay đổi chính trị, dự luật này đã không được xem xét. Các phong trào cải cách chính trị 1996-97, với việc ban hành “Hiến pháp nhân dân” mới năm 1997, dẫn đến các phong trào chính trị mạnh mẽ trong dân chúng đòi hỏi các chính sách lợi ích công cộng.

Nhóm thành viên chính sách trong Bộ Y tế Công Cộng nầy có liên hệ với đảng Thai Rak Thai từ sự tham gia trước đây của họ trong các phong trào xã hội dân sự chống lại chính phủ quân sự vào những năm 1970. Với liên hệ nầy, họ đã thúc đẩy chương trình Chăm Sóc Y Tế Toàn Dân vào chương trình nghị sự chính trị. Chương trình nầy đã trở thành một trong những chính sách thiên về quyền lợi chung, nhất là lo cho người nghèo, trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên theo Hiến pháp mới vào tháng 12 năm 2000. Đảng Thai Rak Thai đã đưa ra khẩu hiệu “30 Baht chữa mọi bệnh”, để thể hiện quan niệm về chính sách Chăm Sóc Y Tế Toàn Dân mà họ đề xuất. Khẩu hiệu này trở nên cực kỳ phổ biến trong chiến dịch tranh cử dân chủ và góp phần vào giành chiến thắng cho đảng Thai Rak Thai trong cuộc bầu cử.

Ngay sau khi thành lập chính phủ mới, chương trình Chăm Sóc Y Tế Toàn Dân được thực hiện để đảm bảo bảo hiểm y tế toàn dân 100%. Chương trình nầy được xây dựng, dựa trên bằng chứng khoa học và kinh nghiệm của các thành viên trong tranh đấu cho dân chủ. Sau khi nghiên cứu và thảo luận chi tiết, chương trình này đã được sửa đổi từ các hệ thống bảo hiểm y tế tự nguyện, được trợ cấp công khai, được đề xuất trong chiến dịch bầu cử, thành một hệ thống phúc lợi xã hội hoàn toàn dựa trên thuế, với khoản thanh toán tối thiểu 30 Baht mỗi lần khám. Sau đó, khoản thanh toán 30 Baht đã bị bãi bỏ vào năm 2006 bởi một chính phủ kế tiếp. Khoản thanh toán tối thiểu 30 Baht mỗi lần khám đã được khôi phục vào năm 2009 nhưng ngay sau đó đã bị loại bỏ do sự phản kháng mạnh mẽ từ công chúng.  

Hai tháng sau khi thành lập chính phủ mới vào đầu năm 2001, chính sách Chăm Sóc Y Tế Toàn Dân đã được thực hiện tại sáu tỉnh để thử nghiệm, được Ngân hàng Thế giới hỗ trợ. Chương trình đã nhanh chóng được mở rộng để bao gồm tất cả các tỉnh khác trong vòng một năm. Để đảm bảo tính bền vững lâu dài của chương trình, và dựa trên Hiến pháp mới, 50.000 công dân Thái Lan, dẫn đầu bởi cùng các cựu lãnh đạo sinh viên, đã đệ trình một dự luật An ninh Y tế Quốc gia lên Quốc hội. Đạo luật An ninh Y tế Quốc gia được ban hành năm 2002. Theo đó, chính phủ thành lập Văn phòng An ninh Y tế Quốc gia để quản lý các hệ thống Chăm Sóc Y Tế Toàn Dân.

Kinh nghiệm của Thái Lan chứng minh rằng một hệ thống được nghiên cứu kỹ lưỡng một cách khoa học với sự lãnh đạo tận tâm có thể cải thiện sức khỏe của toàn dân với ngân sách phải chăng. Trong 10 năm, chương trình Chăm Sóc Y Tế Toàn Dân đã làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, giảm số ngày ốm đau của công nhân và giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho toàn dân, nhất là dân nghèo (2).

Việt Nam

Thử so sánh mức hữu hiệu trong quản lý ý tế giữa Thái Lan và Việt Nam (bảng). Vào năm 2015, Việt Nam chi 5.7% của GDP cho chi phí y tế, so sánh với 3.8% của GDP trong chi phí y tế ở Thái. Mức chi phí y tế trung bình đầu người (sau khi điều chĩnh để cân bằng sức mua tương đương ở thị trường hai nước) là $334 đô ở Việt Nam và $610 ở Thái. Ở chi phí nầy, hệ thống y tế công ở Thái đóng góp 77% chi phí y tế cho công dân của họ. Ở Việt Nam, hệ thống công đóng góp 42% chi phí y tế cho dân ta, một sự chênh lệch quan trọng cho dân nghèo với 35% nhiều hơn so với đóng góp từ hệ thống y tế công ở Thái. Công dân Thái phải dùng tiền túi để trang trải 12% của chi phí y tế. Dân mình phải dùng tiền túi để trang trải 44% chi phí y tế. Trên phương diện phục cho toàn dân, hệ thống y tế ở Thái tốt hơn hệ thống y tế ở Việt Nam.

Bảng: Chi phí y tế của các nước Á Châu  

Chi phí y tế hiện hành Y tế công Trả từ tiền túi Trung bình chi phí đầu người
GDP (US$ vào 2015) % of GDP % of hiện hành % of hiện hành điều chỉnh PPP $ 2015
Việt Nam 1,990 5.7 41.8 43.5 334
Thái Lan 5,720 3.8 77.1 11.8 610
Trung Hoa 7,900 5.3 59.8 32.4 762
Indonesia 3,440 3.3 38.2 48.3 369
Malaysia 10,570 4 52.1 36.7 1064
Singapore 52,090 4.3 51.9 36.7 3681
Nhật Bản 38,840 10.9 84.1 13.1 4405
Nam Hàn 27,450 7.4 56.4 36.8 2556

Chú: PPP – sức mua tương đương. Nguồn: Các chỉ số phát triển thế giới (World Development Indicators) – http://datatopics.worldbank.org/world-development-indicators/themes/economy.html

Năm 2016, chính phủ Việt Nam yêu cầu bộ Y Tế Công Cộng Thái giúp đỡ hệ thống y tế ở Việt Nam để triển khai chương trình chăm sóc y tế toàn dân. Như đã nói ở trên, chương trình ở Thái đặt ưu tiên trong việc sử dụng khoa học để hướng dẫn các quyết định trong chính sách y tế (2). Tiềm năng và nhân tài về chính sách y tế là không thiếu ở Việt Nam, nhất là tiềm năng rất lớn từ các chuyên gia Việt đang làm nghiên cứu trong các diện nầy ở nước ngoài. Tuy nhiên đảng sẽ là một yếu tố tiêu cực trong việc triển khai chương trình nầy vì đảng viên phần thì tham nhũng phần thì không thông hiểu sự quan trọng của lấy quyết định từ khoa học.

Một bài nghiên cứu gần đây mô tả hình ảnh của hệ thống y tế dưới sự quản trị của đảng (3). Trên trung bình, một trong 7 người nằm bệnh viện (15%) phải trả tiền hối lộ để được điều trị và khi xuất viện phải trả tiền “cám ơn bác sĩ”. Bệnh nhân, đặc biệt là những người nghèo và đến từ các vùng nông thôn, thường phải trả tiền túi để được điều trị tại các bệnh viên trung ương ngay cả khi họ phải vay tiền để trả chi phí. Bệnh nhân có thể xuất tiền túi cho các loại thuốc đặc biệt và tiên tiến mà không biết liệu những loại thuốc đó có cần thiết hay có khả năng giúp đỡ cho bệnh tình của họ hay không. Phán đoán của họ gần như dựa trên giá cả và sự khan hiếm của các loại thuốc nên họ tin rằng thuốc càng đắt và hiếm thì càng phải hiệu quả. Nhận thức sai lệch như vậy có thể thêm các chi phí không cần thiết vào chi phí điều trị, tăng lên các xác suất nợ nần và nghèo đói. Rất có khả năng rằng cứ 3 bệnh nhân nhập viện không có bảo hiểm và đến từ các vùng nông thôn, 2 người sẽ phải đối mặt với nợ nần và nghèo đói bởi chi phí chữa bệnh. Cứ 2 bệnh nhân nhập viện với một căn bệnh nghiêm trọng cần điều trị tốn kém, rất có khả năng ít nhất 1 người sẽ có nguy cơ mắc nợ và nghèo đói vì chi phí chữa bệnh. Cũng có khả năng 58% bệnh nhân với thu nhập thấp bị bệnh nặng phải đối mặt với chi phí quá nặng sẽ bỏ ngang việc điều trị.

Dưới sự quản trị của đảng, trong giai đoạn 2013-2014 dân đã có lo ngại sâu sắc khi có tin về sự sụp đổ của Quỹ Bảo hiểm y tế Việt Nam (4). Tháng 11 năm 2018, Bộ Công an đã khởi tố và bắt tạm giam nguyên Thứ trưởng Lê Bạch Hồng, Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cùng đồng phạm (4). Bộ đang điều tra mở vụ án cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các đơn vị có liên quan. Cùng bị khởi tố bị can, bắt tạm giam với nguyên Thứ trưởng Lê Bạch Hồng còn có ông Nguyễn Huy Ban, nguyên Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Trần Tiến Vỹ và Hoàng Hà, cả hai nguyên Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp Ban Kế hoạch Tài chính Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Kết luận

Tiềm năng trong xã hội dân sự là rất lớn, nhất là năng lực trong và ngoài nước và tác dụng hiệp đồng của hai nguồn năng lực nầy. Trong một Việt Nam tự do và dân chủ trong tương lai, lịch sử tranh đấu chống chuyên chính có thể đóng góp vào việc xây dựng một hệ thống chính phủ và y tế lấy quyền lợi của toàn dân, và nhất là người nghèo, làm tiêu chí cho một xã hội nhân bản.

Triệu Hoài An

Tài liệu:

  1. Suriwan Thaiprayoon, Suwit Wibulpolprasert. Political and Policy Lessons from Thailand’s UHC Experience.
  2. What Thailand can teach the world about universal healthcare. https://www.theguardian.com/health-revolution/2016/may/24/thailand-universal-healthcare-ucs-patients-government-political
  3. Vuong. Be rich or don’t be sick: estimating Vietnamese patients’ risk of falling into destitution. SpringerPlus  (2015) 4:529
  4. https://dantri.com.vn/kinh-doanh/nong-vu-cuu-sep-bhxh-bi-bat-trai-tham-do-cho-nha-dau-tu-trung-quoc-20181111090804957.htm

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s