Cảnh Sát Quốc Gia thời Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh tư liệu
Cảnh Sát Quốc Gia thời Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh tư liệu

Bài này có mục đích để thu hút sự chú ý của công dân đến các vấn đề khái niệm liên quan đến tính hợp pháp của nhà nước trong việc nhà nước tự cho rằng lãnh đạo có quyền cai trị trên công dân. Đặc biệt là đánh giá công khai về 1) tính hợp pháp của công an, 2) việc công an phân phối công lý, 3) sự công bằng của các quy trình được sử dụng bởi công an, và 4) hiệu quả của công an trong việc cung cấp an ninh.

Tính hợp pháp của công an là cấp độ hợp pháp đầu tiên và cơ bản nhất trong việc công dân đánh giá cơ quan công an. Đây là vấn đề liên quan đến câu hỏi liệu quyền lực có được thực hiện theo các quy tắc được thiết lập trong hiến pháp hay không. Trong các nền dân chủ tự do, các cuộc thảo luận về tính hợp pháp liên quan đặc biệt đến khái niệm về luật lệ của pháp luật (“rule of law”). Tại trung tâm của pháp luật là các nguyên tắc bình đẳng và nguyên tắc là nhà nước phải tôn trọng tất cả các quyền hợp pháp mà công dân sở hữu các quyền đó theo luật định. Bình đẳng là quyền của các nhóm người khác nhau có quyền được có các vị trí xã hội tương tự và nhận được sự đối xử tương tự, với sự bình đẳng được bảo đảm thông qua tính tổng quát của pháp luật. Luật pháp cũng phải được áp dụng có bài bản, do đó cho phép những người bị ảnh hưởng bởi quyền lực có thể theo hiểu biết về quyền của họ khi nào họ sẽ bị cưỡng chế, và do đó tránh được sự can thiệp không cần thiết từ những người có quyền lực vào cuộc sống của công dân. Tính hợp pháp của công an ngụ ý rằng các quyền hạn cho phép công an (ví dụ, chặn và khám xét công dân, ngăn chặn các cuộc đối thoại, bắn các nghi phạm trong các tình huống cụ thể, hoặc thẩm vấn các nghi phạm trong trường hợp không có luật sư bào chữa) là phải tuyệt đối được áp dụng đúng theo luật lệ hiện hành.

Khía cạnh thứ hai về việc đánh giá tính hợp pháp của công an là công lý phân phối, liên quan đến nhận thức rằng việc thực hiện công tác an ninh và cách đối xử mà mọi người nhận được từ công an (ví dụ: quyết định bắt giữ hoặc truy tố) là công bằng và việc thực hiện các dịch vụ nầy của công an là không phân biệt giàu / nghèo, các nhóm dân tộc khác nhau, và nam / nữ, cũng như các yếu tố khác không liên hệ gì đến sự cố mà công an đang thực hiện. Sự công bằng phân phối cũng có thể phát sinh trong việc phân bổ các nguồn lực của công an. Chính sách về việc vận hành của công an và các chính sách an ninh là dịch vụ công cộng mà toàn dân đã giao cho các nhà chức trách. Các chính sách nầy liên kết chặt chẽ đến bản chất và tính hợp pháp của nhà nước. Sự phân phối công bằng của những dịch vụ công này là một kỳ vọng chuẩn mực trong các xã hội dân chủ. Tuy nhiên, cảnh sát đôi khi thực thi luật pháp một cách qua loa, ví dụ, kỳ thị các nhóm yếu thế trong xã hội bằng cách cố tình thất bại trong việc bảo vệ các nhóm yếu thế nầy, hoặc cố tình thất bại trong việc điều tra các tội ác đã được thực hiện đối với các nhóm nầy. Trong các trường hợp khác, việc phân phối công lý không công bằng có hình thức kiểm soát quá mức các nhóm trong xã hội mà nhà nước không thích. Dưới bất kể hình thức nào, sự phân phối công lý không đồng đều có thể gây tổn hại đến tính hợp pháp của nhà nước và đặc biệt là uy tín của tổ chức cảnh sát trong một xã hội dân chủ.

Khía cạnh thứ ba về việc đánh giá tính hợp pháp của công an là sự công bằng theo thủ tục, nghĩa là sự công bằng của các quy trình được sử dụng để đạt được kết quả hoặc các quyết định cụ thể. Phán quyết của công dân về sự công bằng thủ tục đã được chứng minh bằng thực nghiệm dựa trên hai yếu tố liên quan với nhau. Yếu tố cụ thể thứ nhất là chất lượng mà công an thực thi các quyết định, liên quan đến phán quyết về sự trung thực của công an; việc cung cấp cơ hội để bị cáo có người đại diện; cơ hội sửa lỗi nếu có sự sai lầm khi công an thực thi nhiệm vụ; và việc công an xử lý công việc một cách không thiên vị. Yếu tố cụ thể thứ hai là chất lượng trong cư xữ giữa công an và các bị cáo, bạn bè và gia đình họ, trong đó quan tâm đến việc công an đã đối xử với từng công dân với sự tôn trọng, có nhân phẩm và phép lịch sự. Do đó, khi các hành động của công an thể hiện niềm tin vào quyền và nhân tính của công dân, công dân cảm thấy có giá trị.

Khía cạnh thứ tư về việc đánh giá tính hợp pháp của công an là công an phải có khả năng để làm việc một cách có hiệu quả. Người dân mong muốn công an có thẩm quyền và hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ của họ. Khi công dân yêu cầu công an chứng minh tính hiệu quả trong việc giải quyết tội phạm và rối loạn tại địa phương của họ, điều đó có nghĩa là họ đang mong đợi công an sẽ tạo điều kiện chuẩn mực cho tính hợp pháp của cơ quan công an nói riêng, và tính hợp pháp của nhà nước trên tổng thể.

Tiến sĩ Phạm Đình Bá, đại học Toronto Canada gửi về cho Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam.

Tài liệu:
1. Justice Tankebe. Viewing things differently: the dimensions of public perceptions of police legitimacy. Criminology 2013; 51(1):103-135.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s