Untitled
Đặng Hùng Võ

Việt Nam đang trong thời kỳ khủng hoảng triết lý: yêu thiên nhiên nhưng lại nhốt chim muông hoang dã vào chuồng, hô hào bảo vệ môi trường nhưng lại kích cầu mua bán gỗ quý hiếm. Trong ảnh là ông Đặng Hùng Võ nguyên thứ trưởng bộ tài nguyên môi trường trên chiếc ghế bằng gỗ to chà bá được chạm trổ kỳ công.

Đây là hình ảnh Phó giáo sư, tiến sĩ Đặng Hùng Võ- nguyên thứ trưởng bộ tài nguyên môi trường ngồi tại nhà riêng trả lời phỏng vấn báo chí về nạn phá hoại rừng ở Thanh Hóa. Nhìn bộ ghế thì biết ai đứng đầu danh sách phá rừng rồi, đó chính là những người có bằng cấp cao nhưng không đạt nền nhân bản. Để có chiếc ghế to như ngai vàng này cho Đặng Hùng Võ cười tươi an tọa, hẳn là biết bao nhiêu mét khối gỗ rừng đã bị đốn vì ông.

Ngắm chiếc ghế, bạn Nguyễn Huy nhận xét: “Cái ghế này ép từ bột tre nứa…của các ngôi nhà dân bị bão lũ cuốn trôi hay sao ấy…vớ vẩn có cả xương thịt người chết vì bão lũ lẫn vào đấy.”

Ông Huỳnh Vạn Sự  bình luận: “Ở Việt Nam, người càng biết luật, chức vụ càng cao càng vi phạm pháp luật nhiều nhất và nghiêm trọng nhất nhưng cứ như xem là chuyện bình thường.

Mọi ngành học đại học đều phải có ngành triết chỉ huy. Khi ngành triết không ra gì, các ngành khác như không có xương sống,  học hàm- học vị càng thì ăn nói càng xiêu vẹo.

Giáo sư- tiến sĩ cùng bằng cấp nhiều để mà làm gì?

Góp góc nhìn về chuyện lâm tặc.

Chỉ thị số 15CT/CTCW được Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành ngày 10/3/1961 xác định: “Rừng là tài sản của toàn dân, phải do Nhà nước thống nhất quản lý” (BNNPTNT, 2001a). Khi đó, Nhà nước tập trung quản lý tài nguyên rừng thông qua hệ thống các lâm trường quốc doanh. Các lâm trường nhận kinh phí từ ngân sách quốc gia để thực hiện nhiệm vụ khai thác và trồng rừng theo các chỉ tiêu kế hoạch chi tiết do trung ương ban hành.
Mục tiêu chính của ngành lâm nghiệp là “Đẩy mạnh khai thác gỗ và lâm sản để đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ khôi phục kinh tế” và “Đưa công nghiệp gỗ lên thành ngành công nghiệp quan trọng nhất” (BNNPTNT, 2001a). Việc xây dựng các chỉ tiêu khai thác không dựa trên tốc độ tăng trưởng tự nhiên của rừng mà chủ yếu căn cứ vào nhu cầu gỗ của nền kinh tế. Mô hình lâm nghiệp nhà nước giai đoạn 1945-1985 đã dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng của tài nguyên rừng với tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc giảm mạnh từ 43% xuống 30%, (De Jong et al., 2009). Công cuộc đổi mới về kinh tế và xã hội khởi đầu vào năm 1986 đã thúc đẩy sự cải cách sâu rộng trong nhiều lĩnh vực quan trọng của đất nước, bao gồm cả ngành lâm nghiệp.
Năm 1991, Bộ Lâm nghiệp công bố Báo cáo Tổng quan Lâm nghiệp Việt Nam với đề xuất chuyển lâm nghiệp “từ một ngành kinh tế chỉ có nhà nước và tập thể được kinh doanh rừng sang một nền lâm nghiệp xã hội với sự tham gia của các thành phần kinh tế và nhiều lực lượng xã hội”; và “từ một ngành kinh tế có nhiệm vụ khai thác tài nguyên tự nhiên là chính trở thành một ngành kinh tế có nhiệm vụ cơ bản là xây dựng vốn rừng, sản xuất lâm sản” (BNNPTNT, 2001a).
[Tham khảo từ Dang, T. K. P, Turnhout, E. , Arts, B. 2012. Changing forestry discourses in Vietnam in the past 20 years. Forest and Policy Economics 25 (2012) 31-41]

Luật gia Cao Minh Tâm- Sài Gòn.

Advertisements

One thought on “Vì sao Việt Nam có nhiều lâm tặc?

  1. GÓP GÓC NHÌN VỀ CHUYỆN ‘LÂM TẶC’

    Chỉ thị số 15CT/CTCW được Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành ngày 10/3/1961 xác định: “Rừng là tài sản của toàn dân, phải do Nhà nước thống nhất quản lý” (BNNPTNT, 2001a). Khi đó, Nhà nước tập trung quản lý tài nguyên rừng thông qua hệ thống các lâm trường quốc doanh. Các lâm trường nhận kinh phí từ ngân sách quốc gia để thực hiện nhiệm vụ khai thác và trồng rừng theo các chỉ tiêu kế hoạch chi tiết do trung ương ban hành.

    Mục tiêu chính của ngành lâm nghiệp là “Đẩy mạnh khai thác gỗ và lâm sản để đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ khôi phục kinh tế” và “Đưa công nghiệp gỗ lên thành ngành công nghiệp quan trọng nhất” (BNNPTNT, 2001a). Việc xây dựng các chỉ tiêu khai thác không dựa trên tốc độ tăng trưởng tự nhiên của rừng mà chủ yếu căn cứ vào nhu cầu gỗ của nền kinh tế. Mô hình lâm nghiệp nhà nước giai đoạn 1945-1985 đã dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng của tài nguyên rừng với tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc giảm mạnh từ 43% xuống 30%, (De Jong et al., 2009). Công cuộc đổi mới về kinh tế và xã hội khởi đầu vào năm 1986 đã thúc đẩy sự cải cách sâu rộng trong nhiều lĩnh vực quan trọng của đất nước, bao gồm cả ngành lâm nghiệp.

    Năm 1991, Bộ Lâm nghiệp công bố Báo cáo Tổng quan Lâm nghiệp Việt Nam với đề xuất chuyển lâm nghiệp “từ một ngành kinh tế chỉ có nhà nước và tập thể được kinh doanh rừng sang một nền lâm nghiệp xã hội với sự tham gia của các thành phần kinh tế và nhiều lực lượng xã hội”; và “từ một ngành kinh tế có nhiệm vụ khai thác tài nguyên tự nhiên là chính trở thành một ngành kinh tế có nhiệm vụ cơ bản là xây dựng vốn rừng, sản xuất lâm sản” (BNNPTNT, 2001a).

    [Tham khảo từ Dang, T. K. P, Turnhout, E. , Arts, B. 2012. Changing forestry discourses in Vietnam in the past 20 years. Forest and Policy Economics 25 (2012) 31-41]

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s