Ảnh tư liệu

Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto, Canada

Thuật ngữ “hiệu quả của công đoàn” là khó xác định. Có thể lập luận rằng công bằng xã hội và kinh tế là mục tiêu bao trùm của các công đoàn. Tuy nhiên, mục tiêu này là quá rộng để rất hữu ích. Có thể dễ dàng xác định một loạt các biện pháp hiệu quả hẹp hơn, từ sự tồn tại của công đoàn, việc đạt được các mục tiêu đề ra, đến thương lượng tập thể. Tuy nhiên, nhiều biện pháp như vậy sẽ khác nhau giữa các công đoàn.

Ngay cả các cá nhân, trong và ngoài công đoàn, sẽ giữ các tiêu chuẩn duy nhất để đo lường hiệu quả của công đoàn dựa trên nhu cầu và ưu tiên của họ. Một thành viên đã nghỉ hưu có thể đánh giá công đoàn chủ yếu bằng trợ cấp hưu trí mà công đoàn có thể thương lượng, trong khi một thành viên mong đợi đứa con đầu lòng có thể cảm thấy thước đo thực sự của hiệu quả của công đoàn là chất lượng của kế hoạch hổ trợ trong những ngày nghĩ thai sản. Một nhà tổ chức công đoàn có thể đánh giá hiệu quả dựa trên các nguồn lực mà công đoàn phân bổ cho tổ chức thành viên, trong khi một thủ quỹ của công đoàn có thể nghĩ rằng tài khoản ngân hàng là nền tảng thực sự của sự thành công của công đoàn.

Định nghĩa về hiệu quả của công đoàn cũng có thể thay đổi theo thời gian và giữa các ngành công nghiệp. Vào đầu thế kỷ XX, sự sống còn có thể là mục tiêu chính của hầu hết các công đoàn, trong khi ngày nay, các công đoàn có lẽ không coi đó là thước đo thành công duy nhất. Tương tự như vậy, các công đoàn mới được tổ chức trong các ngành công nghiệp mà phần lớn là chưa phổ nhập việc công đoàn có thể thấy mức tăng lương khiêm tốn là dấu hiệu thành công, trong khi các công đoàn trong các ngành mà công đoàn có tổ chức chặt chẽ hơn như sản xuất ô tô sẽ đặt mục tiêu thương lượng với các giá trị cao hơn nhiều.

Câu trả lời cho câu hỏi, thế nào là một công đoàn hiệu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả bạn đặt câu hỏi cho ai và bạn hỏi khi nào. Công đoàn hiệu quả là một khái niệm phức tạp, rất năng động. Có lẽ điều tốt nhất có thể được thực hiện là xem xét các yếu tố phổ biến trong các định nghĩa về hiệu quả được đánh giá bởi các thành viên công đoàn và chính các nhà lãnh đạo công đoàn. Ít nhất bốn nghiên cứu đã xác định các tiêu chí như vậy (tài liệu diễn giảng liệt kê bên dưới). Kết quả của các nghiên cứu này có thể được kết hợp để đưa ra ba tiêu chuẩn chung để đánh giá hiệu quả của các công đoàn. Ba thước đo này là khả năng tổ chức các công đoàn mới, kết quả của các nỗ lực thương lượng tập thể và hiệu ứng của công đoàn lên toàn xã hội.

KHẢ NĂNG CỦA CÔNG ĐOÀN ĐỂ TỔ CHỨC CÁC THÀNH VIÊN MỚIViệc tuyển dụng thành viên công đoàn diễn ra trong hai bối cảnh khác nhau. Đầu tiên, trong phần lớn các trường hợp, các công đoàn chỉ tồn tại ở nơi làm việc khi đa số nhân viên đã thể hiện mong muốn được đại diện bởi công đoàn. Do đó việc tổ chức thuyết phục đa số công nhân ở một hãng hay công nghiệp chấp nhận sự đại diện của công đoàn là một phương tiện trung tâm để đưa các nhóm công nhân mới vào công đoàn. Loại tuyển dụng thứ hai diễn ra trong đó một công đoàn đã được bỏ phiếu nhưng không có thỏa thuận giữa quản lý và công đoàn, nhất là an toàn cho các thành viên gia nhập công đoàn. Trong phạm vi nầy, ba thước đo về hiệu quả của công đoàn có thể là tỷ lệ thành lập tổ chức mà công đoàn giành được, số lượng thành viên mà họ thu phục thông qua cách thành lập công đoàn, và tỷ lệ thành viên đại diện bởi công đoàn.

Tổ chức và thu hút thành viên là rất quan trọng đối với các công đoàn – công đoàn là tổ chức thành viên; không có thành viên công đoàn không thể tồn tại. Hai trong số các tiêu chuẩn bổ sung về hiệu quả của công đoàn được thảo luận dưới đây, kết quả thương lượng tập thể và ảnh hưởng chính trị, được gắn trực tiếp với việc thu nhập thành viên của công đoàn (xem hình).

Untitled
Hình: Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả của công đoàn

                                 

KẾT QUẢ THƯƠNG LƯỢNG TẬP THỂThương lượng tập thể đã có, và cho đến ngày nay, cơ chế quan trọng nhất để theo đuổi công bằng xã hội và kinh tế cho hầu hết các công đoàn. Thương lượng thường tập trung vào các vấn đề về tiền lương, lợi ích, bảo đảm công việc và điều kiện làm việc. Một cách để đo lường hiệu quả của các nỗ lực thương lượng của công đoàn là so sánh mức lương và lợi ích của công đoàn với các mức lương của công nhân tương đương mà không có công đoàn. Lầy ví dụ ở Hoa Kỳ vào năm 2007, thu nhập hàng tuần của những người lao động trong công đoàn cao hơn 30% so với những người lao động không được đại diện bởi công đoàn. Nhưng nếu chi phí sinh hoạt thực sự là thước đo mà các nỗ lực thương lượng của công đoàn được đo lường, thì những nỗ lực này lại không thành công lắm. Trong khoảng thời gian gần ba mươi năm, mức tăng lương trung bình của công đoàn không theo kịp lạm phát.

Khi đánh giá hiệu quả của công đoàn trong thương lượng tập thể, điều quan trọng là phải xem xét khả năng của công đoàn để thực thi thành công các thỏa thuận qua đàm phán. Thủ tục khiếu nại, bao gồm cả trọng tài, là phương tiện chính để thực thi các thỏa thuận lao động. Hướng dẫn đào tạo của công đoàn thường nhấn mạnh rằng một hợp đồng được đàm phán chỉ tốt khi hợp đồng đó được thực thi đúng nghĩa của hợp đồng. Một số nghiên cứu đã kết luận rằng quan điểm của các thành viên đối với thủ tục khiếu nại là liên quan mật thiết đến cam kết của các thành viên nầy đối với công đoàn, nhất là nhận thức về khả năng của công đoàn để bảo đảm công việc làm của họ.

Một nhà nghiên cứu đã lập luận rằng việc đánh giá hiệu quả của công đoàn trong thương lượng tập thể phải vượt ra ngoài việc xem xét đơn giản liệu các công đoàn có cải thiện tiền lương, lợi ích và điều kiện làm việc hay không. Nhà nghiên cứu này lập luận rằng mọi đánh giá về hiệu quả phải xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu và mong đợi của các thành viên và lợi ích đạt được của công đoàn, do đó liên kết rõ ràng tiêu chuẩn của nền dân chủ trong công đoàn với kết quả thương lượng tập thể.

Mức độ mà nhu cầu và mong đợi của các thành viên được đáp ứng trong thương lượng tập thể phản ánh cả mức độ dân chủ được coi trọng trong công đoàn và hiệu quả của công đoàn trong quá trình thương lượng. Khả năng của các công đoàn để đánh giá nhu cầu và mong đợi của các thành viên của họ có tầm quan trọng đặc biệt trong môi trường hoạt động của công đoàn ngày nay, khi mà các nhu cầu và mong đợi của thành viên có thể thay đổi nhanh chóng, và công đoàn có đủ sức mềm dẻo để đáp ứng với sự thay đổi trong nhu cầu và mong đợi của thành viên hay không.

TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN LÊN XÃ HỘIMột thước đo thứ ba để đánh giá hiệu quả của công đoàn là khả năng ảnh hưởng của công đoàn đến xã hội, nhất là khi các ảnh hưởng nầy được tận dụng để công đoàn có thể đạt được các mục tiêu đã thảo luận ở trên. Các công đoàn từ lâu đã nhận ra rằng các mối quan hệ quản lý công đoàn không xảy ra trong khoảng trống. Công đoàn cũng đã nhận thức được rằng các thành viên của họ có cuộc sống vượt ra ngoài nơi làm việc. Xã hội, được định nghĩa rộng rãi, có thể giúp một công đoàn trong quá trình thương lượng tập thể bằng cách hỗ trợ các thành viên công đoàn trong một cuộc đình công hoặc tẩy chay. Ngược lại, dư luận xã hội có thể cản trở các cuộc đình công hoặc tẩy chay công đoàn kêu gọi bằng cách từ chối hỗ trợ các đề nghị của công đoàn.

Tổ chức thu hút thành viên vào công đoàn mới thành lập có nhiều khả năng thành công khi các tổ chức nầy diễn ra trong một môi trường khi dư luận xã hội hỗ trợ các công đoàn, hơn là khi chúng xảy ra trong một môi trường thiếu sự hỗ trợ của dư luận xã hội. Và, tất nhiên, lập trường của chính phủ đối với các công đoàn và quản trị nội bộ của công đoàn, đối với nỗ lực tuyển dụng thành viên mới và đối với các nỗ lực thương lượng tập thể của công đoàn trong quá khứ là một yếu tố quan trọng trong sự thành công của các công đoàn. Mặc dù các công đoàn khác nhau về sự nhấn mạnh mà họ đặt vào việc tác động đến xã hội, nhưng hầu như tất cả các công đoàn đều nhận ra rằng họ có thể trở nên hiệu quả hơn bằng cách tăng ảnh hưởng của họ trong cộng đồng và trong lĩnh vực chính trị.

MỨC ĐỘ DÂN CHỦ TRONG CÔNG ĐOÀNMột xem xét bổ sung mà một số người tin là thước đo hiệu quả của công đoàn là mức độ dân chủ trong công đoàn. Nền tảng dân chủ trong công đoàn đã được định nghĩa là “sự quản trị của công đoàn, và mức độ tham dự của các thành viên vào việc quản trị nầy”. Một công đoàn hoạt động theo hướng dân chủ sẽ là một tổ chức trong đó các thành viên tham gia hoặc ít nhất có cơ hội tham gia, ra quyết định, thực thi các quyết định và bầu cử đại diện.

Chúng ta có thể tranh luận rằng nền tảng dân chủ trong công đoàn là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá công đoàn. Dân chủ trong công đoàn có thể liên quan trực tiếp đến hiệu quả của công đoàn. Một trong những lợi ích quan trọng của công đoàn là công đoàn mang lại cho các thành viên tiếng nói tại nơi làm việc. Dân chủ giúp đảm bảo rằng khi tiếng nói này được thực thi, công đoàn thực sự đại diện cho các mong muốn và ước vọng của thành viên. Các thực hành dân chủ có thể giúp huy động các thành viên, khai quật và đào tạo các nhà lãnh đạo tiềm năng, và kiểm tra tham nhũng và bất tài trong nội bộ công đoàn.

Tuy nhiên, một trường hợp đôi khi được lập luận rằng quá nhiều dân chủ có thể cản trở hiệu quả của công đoàn. Nhấn mạnh điểm này là thực tế rằng các quy trình dân chủ có thể rườm rà, ngăn cản các công đoàn hành động nhanh chóng và dứt khoát. Đôi khi nền dân chủ lấy quyết định ra khỏi tay những người được trang bị tốt nhất để lãnh đạo và đặt những quyết định sống chết của công đoàn vào tay những thành viên kém trang bị để giải quyết các vấn đề nầy. Có lẽ có một mức dân chủ tối ưu cho các tổ chức lao động. Nếu đây là trường hợp thực sự, điều chắc chắn là không có sự đồng thuận giữa các nhà lãnh đạo công đoàn hoặc các nhà khoa học hành vi về mức độ dân chủ tối ưu đó.

Mặc dù có nhiều cách có thể được dùng để đánh giá hiệu quả của công đoàn, ba tiêu chuẩn bàn ở trên, bao gồm thể hiện khả năng tổ chức và tuyển dụng thành viên mới của công đoàn, giành được lợi ích tại bàn thương lượng, và ảnh hưởng đến xã hội thông qua các hoạt động cộng đồng và tạo ảnh hưởng chính trị. Các tiêu chuẩn nầy đáng giá hợp lệ hiệu quả của các công đoàn. Các tiêu chuẩn nầy là lựa theo đề xuất của các tổ chức lao động và các tài liệu nghiên cứu.

Các cuộc thảo luận về hiệu quả của công đoàn tạo tiền đề về mức độ liên quan cao giữa ba tiêu chí đề cập ở bên trên. Ví dụ, khả năng của công đoàn để duy trì một cơ sở thành viên mạnh mẽ có liên quan chặt chẽ đến khả năng giành được lợi ích tại bàn thương lượng, và cũng có liên quan đến việc công đoàn tham gia vào các công tác xã hội, tạo ảnh hưởng thuận lợi cho sự hoạt động của công đoàn. Ngược lại, khả năng của công đoàn để giành được một vị trí tốt trong bàn thương lượng và có hiệu quả tích cực về mặt chính trị sẽ đóng một vai trò quan trọng trong nỗ lực thu hút thành viên mới cho công đoàn.

Các công đoàn khác nhau đặt các điểm nhấn mạnh khác nhau vào các hoạt động này và cùng một công đoàn có thể đặt các điểm nhấn mạnh khác nhau vào các hoạt động này vào các thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, cuối cùng, sự liên quan của các tiêu chí này cho thấy rằng để duy trì khả năng và tiềm lực hoạt động, các công đoàn cần phải chú ý đến cả bốn lĩnh vực mà chúng ta đã bàn ở trên.

Ghi chú của  tòa soạn: Bài viết do Tiến sĩ Phạm Đình Bá- đại học Toronto, Canada gửi về cho Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam. Để hiểu sâu thêm về các khái niệm, mời bạn đọc nghiên cứu cuốn Building More Effective Unions của Paul F. Clark, Cornell University Press, 2009. Bài viết thuộc Chương trình đào tạo cán bộ nghiệp đoàn do Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam tổ chức. Xem chi tiết về chương trình này tại đây: https://goo.gl/NejyS4

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s