Nguồn ảnh: Trường đại học Công đoàn
Nguồn ảnh: Trường đại học Công đoàn

Nghiệp đoàn độc lập tối thiểu phải bảo vệ được các quyền lợi của người lao động về những khoản tiền lương, giờ làm việc, chế độ phúc lợi theo luật định, cùng việc mở rộng các quyền khác như quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin, quyền chống lại sự xách nhiễu của nhân viên công lực…

Tính chuyên nghiệp của các hội, đoàn dân sự trong bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động sẽ tìm kiếm nguồn nhân lực từ đâu; và liệu họ có được trao quyền là nơi cung ứng, cũng như giám sát nguồn lao động theo nhu cầu của doanh nghiệp?

Từ Đại học Công đoàn?

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là cơ quan chủ quản của trường Đại học Công đoàn, đặt tại địa chỉ 169 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội. Trường thành lập năm 1992, tuyển sinh khóa đầu tiên vào niên học 1993/1994. Khóa I của trường được cấp bằng là vào năm 1997.

Lịch sử hình thành của Đại học Công đoàn ghi là trường từng có tên trường Cao cấp Công đoàn, khóa đầu tiên vào ngày 15 tháng 5 năm 1946, với tên gọi là lớp đào tạo cán bộ Công vận, khai giảng tại đình Khuyến Lương, xã Trần Phú, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Nội dung chính trong giảng dạy về công đoàn kể từ khóa đầu tiên về “cán bộ Công vận”, là phương thức thực hiện các tuyên truyền cổ động, như phong trào “Thi đua sản xuất, thi đua xây dựng”, ”Cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng kiến, trau dồi nghề nghiệp”… Ý thức cách mạng cho giai cấp cho công nhân là chủ điểm mang tính xuyên suốt. Tài liệu lưu trữ cho thấy những lớp học về công đoàn giai đoạn đó là “phải tranh thủ vận dụng mọi hình thức tổ chức và đấu tranh để tuyên truyền, giác ngộ công nhân; đẩy mạnh phong trào phá hoại kinh tế địch; đấu tranh chống âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh của địch; chống địch phá hoại và di chuyển máy móc, tạo thuận lợi cho việc tiếp quản các thành phố, thị xã sau giải phóng”.

Phải đến năm 1992, với việc thành lập Đại học Công đoàn là trường đại học đa ngành, đa cấp trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và chịu sự quản lý về chuyên môn của Bộ Giáo dục – Đào tạo, thì vấn đề bảo vệ quyền lợi của người lao động mới bắt đầu được sự quan tâm về học thuật, với các chuyên ngành hẹp như: Quản trị nhân lực; Quản trị Kinh doanh, Quản lý An toàn và sức khỏe nghề nghiệp, Xã hội học, Kế toán, Tài chính ngân hàng, Bảo hộ lao động, Luật.

Sinh viên tốt nghiệp Đại học Công đoàn không phải làm các công việc về công đoàn, mà là công tác trong các chuyên ngành hẹp đã được đào tạo. Có thể dễ dàng kiểm chứng điều này khi tất cả các quan chức ở Liên đoàn Lao động địa phương, cho đến Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, chưa thấy người nào trong lý lịch khoa học ghi tốt nghiệp văn bằng I từ Đại học Công đoàn.

Không phải các sinh viên hiện nay không đủ khả năng làm các phần việc chuyên trách về công đoàn, mà là họ thiếu ngay từ đầu một tiêu chuẩn ‘bất thành văn’ để có thể làm cán bộ công đoàn được sự phê chuẩn của công đoàn cấp trên, đó là tiêu chuẩn đảng viên ghi trong lý lịch.

Như vậy, việc hình thành những nghiệp đoàn độc lập trong tương lai, thì những người lao động có các bằng cấp chuyên môn từ Đại học Công đoàn, sẽ là một trong số nguồn nhân lực đáp ứng.

Từ căn cứ các chuyên ngành hẹp được đào tạo ở Đại học Công đoàn, có thể thấy rằng nguồn nhân lực cung cấp cho những tổ chức công đoàn/ nghiệp đoàn độc lập của Việt Nam hiện nay là vừa dễ dàng tìm thấy ở hầu hết các trường đại học, mà còn là việc không phải chịu sự ảnh hưởng trong tư duy chính trị ở nơi từng là tổ chức của Công hội đỏ.

Nghiệp đoàn độc lập với chức năng cung ứng nguồn lao động

Câu hỏi tiếp theo được đặt ra, và đây cũng chính là điều mà phía doanh nghiệp với tư cách nơi có nhu cầu sử dụng người lao động cần, rằng liệu các nghiệp đoàn độc lập của Việt Nam có được chức năng là nơi cung cấp và giám sát nguồn lao động theo yêu cầu của chủ doanh nghiệp?

Trong các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu than có vốn đầu tư từ Trung Quốc ở tại tỉnh Bình Thuận, tỉnh Trà Vinh lâu nay sử dụng nhiều lao động từ Trung Quốc sang. Khu công nghiệp Vũng Áng – Hà Tĩnh, nơi mà tập đoàn Formosa gần như nắm quyền chi phối mọi hoạt động, thì số lượng công nhân từ Trung Quốc gần như giữ tỷ lệ áp đảo. Nhiều khách sạn, sòng bạc ở thành phố Nha Trang, Đà Nẵng cũng tràn ngập người lao động là Trung Quốc… Tất cả gần như nằm ngoài tầm quản lý của các sở Lao động, Thương binh – Xã hội tại địa phương.

Tại sao không hình thành những nghiệp đoàn độc lập có chức năng cung ứng và giám sát nguồn lao động, tránh việc ồ ạt nhập cư nguồn lao động từ Trung Quốc, đe dọa cân bằng nguồn lực lao động của Việt Nam?

Có thể tham khảo mô hình quản trị của Nhật Bản. Mỗi công ty dù lớn hay nhỏ của Nhật Bản đều sẽ có một tổ chức gần giống với Công đoàn của Việt Nam, và nó có tên là Nghiệp đoàn. Theo như quy định của chính phủ Nhật Bản về tuyển dụng lao động nước ngoài, bất cứ xí nghiệp nào muốn tuyển dụng lao động không phải là người Nhật, thì đều phải thông qua Nghiệp đoàn.

Đơn cử, khi tìm kiếm nguồn lao động tại Việt Nam, Nghiệp đoàn Ohayo thuộc thành phố Okayama (Nhật Bản) đã chọn việc liên kết với Trung tâm Phát triển nhân lực quốc tế (HIDC) của trường Đại học Hùng Vương, Sài Gòn. Phía Nghiệp đoàn Ohayo sẽ cử nhân viên đi cùng đại diện doanh nghiệp Nhật Bản sang Việt Nam để cùng HIDC tuyển chọn lao động.

“Nếu có quy định việc nghiệp đoàn độc lập được quyền tham gia trong cung ứng và giám sát nguồn lao động, tôi tin rằng để bảo vệ lợi ích của người lao động Việt Nam, các nghiệp đoàn này sẽ giúp cơ quan quản lý phát hiện nhanh nhất những lao động nước ngoài đang làm việc trái phép tại Việt Nam.

Ví dụ như ở Nhiệt điện Vĩnh Tân, tỉnh Bình Thuận. Công nhân Việt Nam cho hay chủ đầu tư Trung Quốc đang sử dụng rất nhiều người lao động từ Trung Quốc sang, nhưng không qua các thủ tục đăng ký với sở Lao động, Thương binh – Xã hội tỉnh Bình Thuận. Địa điểm ngủ qua đêm của nhóm lao động đó nằm tại khu vực biển Cà Ná, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, giáp ranh với xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

Nơi này có nhiều quán ăn từ bình dân đến sang trọng có phòng máy lạnh đều treo bảng hiệu song ngữ Việt – Hoa. Một số người Trung Quốc nhận thấy lượng khách hàng đồng hương ổn định tại đây, nên đã hùn hạp với người dân bản địa mở quán ăn và các loại hình kinh doanh khác.

Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội từng công bố kết quả giám sát chuyên đề người nước ngoài làm việc tại Việt Nam giai đoạn 2013 – 2017, đã cho thấy số lao động Trung Quốc đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam là trên 25.100 người, chiếm hơn 1/3 tổng lao động nước ngoài trên cả nước. Nếu tính luôn con số gần 10.500 lao động đến từ Đài Loan, thì số lao động Trung Quốc tại Việt Nam có thể lên tới 35.600 người.

Từ những con số nói trên, tôi nghĩ cần trao cho các nghiệp đoàn độc lập quyền tham gia vào cung ứng và giám sát nguồn lao động cho doanh nghiệp tương tự như Nhật Bản”. Luật sư Nguyễn Thu Trang, phụ trách tư vấn lao động ở một công ty luật, đề xuất.

Với Việt Nam, tất cả vấn đề gì liên quan đến Trung Quốc đều được xem là nhạy cảm, nhất là khi người dân liên tưởng tới Hiệp ước Thành Đô có quá nhiều thông tin trái chiều, song mãi cho đến nay vẫn chưa được giải mật.

Nguyễn Cao- Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s