Chỉ số tự do kinh tế của Việt Nam qua các năm
Chỉ số tự do kinh tế của Việt Nam qua các năm

Nếu quả thật sau đỉnh cao 2018 là một đỉnh cao mới của tăng trưởng, thì lạm phát sẽ trở lại khi bong bóng tài sản đủ lớn…

Nhân dịp đầu năm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có bài viết với tiêu đề “Nỗ lực đổi mới, sáng tạo, quyết liệt hành động, phấn đấu thực hiện thắng lợi toàn diện kế hoạch năm 2019, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững”, trong đó có đoạn: “Lần đầu tiên kể từ năm 2008,tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 7,08%, trong nhóm các nước tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới. Quy mô GDP tăng mạnh, đạt trên 5,5 triệu tỷ đồng, bình quân đầu người đạt 2.587 USD”. [http://bit.ly/2TCJaYi]

Khi đã leo lên đỉnh…

Chào sáu mốt đỉnh cao muôn trượng/ Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng/ Trông lại trời Nam, trông tới mai sau/ Trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu…”. Tố Hữu đầy phấn khích reo lên như vậy trong thi phẩm “Bài ca mùa xuân 1961”.

“Khi người ta đã lên đỉnh, thì sớm hay muộn cũng phải đi xuống…”. Người viết vẫn còn nhớ lời bình như thế về “Bài ca mùa xuân 1961” của thầy Hoàng Như Mai (đã mất) trong tiết dạy ở giảng đường “Trúc đào” của Sài Gòn thập niên 80 thế kỷ trước. “Trúc đào” là tên của mấy đứa sinh viên tự đặt, vì sát bên giảng đường có cây trúc đào xum xuê. Nghe đâu cây này có từ hồi con đường Đinh Tiên Hoàng nơi ngôi trường hiện diện còn mang tên Cường Để.

Trở lại với câu hỏi: kinh tế Việt Nam trong năm Kỷ Hợi 2019 sẽ lập đỉnh mới, hay bắt đầu bên kia sườn dốc?

Phiên họp Chính phủ đầu năm 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc công bố mức tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2018 là 7,08%. Đây là mức GDP cao nhất của Việt Nam kể từ mốc khủng hoảng kinh tế 2008, Việt Nam nhiều khả năng lọt vào nhóm 10-15 nền kinh tế dẫn đầu thế giới về tăng trưởng.

Bước vào năm 2019, câu hỏi sẽ là điều gì phía sau đỉnh cao này? Có người sẽ trả lời ngay: vực sâu. Nhưng cũng có người sẽ nghĩ phía sau đỉnh cao, có thể là một đỉnh cao mới.

Đã leo cách nào để đến đỉnh?

Nhà báo Phạm Chí Dũng, người có học vị tiến sĩ kinh tế, thận trọng cho rằng với những gì mà Chính phủ đang ứng xử với người dân về các tiêu chí nhân quyền, cho thấy con số tăng trưởng 7,08% mà ngài Nguyễn Xuân Phúc đang hồ hỡi là đáng ngờ vực, trong đó có vấn đề nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam vẫn còn quá cao. Lãi suất ngân hàng không giảm mà lại tăng.

Ông Hồ Quốc Tuấn, giảng viên của Đại học Bristol, Anh Quốc nói rằng ở Việt Nam có quá nhiều văn bản được đóng dấu “Mật”, nên tìm ra những con số thống kê mang tính độc lập là điều không dễ. Lẽ đó từ chuyện giá cả gì cũng tăng, bữa cơm gia đình ngày một teo tóp, nên người ta dễ nghi ngờ những con số báo cáo bóng bẫy nặng thành tích.

“Khi biết Việt Nam thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, một “siêu ủy ban” với tổng tài sản quản lý khoảng 1,5 triệu tỷ đồng, trong đó có 820.000 tỷ đồng vốn nhà nước, tôi nghĩ ngay đến câu hỏi về tính minh bạch và chuyên nghiệp của cơ quan này.

Thứ nhất, tính minh bạch và chuyên nghiệp đầu tiên thể hiện ở cách bổ nhiệm nhân sự, công bố thông tin cho công chúng và giám sát quyền lực. Công chúng phải được hiểu như những cổ đông của Siêu ủy ban này, được thông tin định kỳ và rõ ràng về các khoản đầu tư, hoạt động của các thành viên, biết đến báo cáo hàng tháng, hàng quý có kiểm toán và giám sát độc lập.

Những thông tin đó không thể đóng dấu “mật” mà phải là tài liệu đại chúng, trình bày tiện lợi cho toàn bộ công chúng có thể đọc. Các tài liệu của nhà nước thường rất khó hiểu với người dân. Đại biểu Quốc hội và các cơ quan giám sát cũng phải biết các tập đoàn được Siêu ủy ban quản lý lời lỗ ra làm sao, chứ không phải một ngày đẹp trời, dân ngã ngửa khi biết các “ông lớn” đang nợ cả triệu tỷ đồng, lỗ cả nghìn tỷ đồng, hay lãi nghìn tỷ trong bí mật. Những sự kiện như EVN (Tập đoàn Điện lực Việt Nam) bị truy thu thuế cả nghìn tỷ đồng, bất chấp lý lẽ của phía quản lý đồng vốn nhà nước đưa ra là gì, gây mất niềm tin cho nhân dân.

Thứ hai, sau minh bạch là vấn đề giám sát và chịu trách nhiệm. Khi dân đã biết được tỷ suất sinh lợi, tình hình vay nợ của tập đoàn rồi thì những người đứng đầu Siêu ủy ban phải chịu trách nhiệm nếu hoạt động quản lý tài sản Nhà nước không được hiệu quả. Những số liệu về hiệu quả của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam những năm qua không mấy lý tưởng…”. Ông Hồ Quốc Tuấn đặt vấn đề.

Lo lắm… bong bóng

Cả hai chuyên gia kinh tế tài chính Phạm Chí Dũng và Hồ Quốc Tuấn đều chung lo lắng trước thực tế sự thiếu điện, trục trặc trong các dự án đầu tư công, việc bán vốn Nhà nước bị trì trệ, thiếu minh bạch trong khu vực quốc doanh, nạn tham nhũng… sẽ tiếp tục là các tác nhân đánh vào tăng trưởng. Ngược lại, nếu quả thật sau đỉnh cao 2018 là một đỉnh cao mới của tăng trưởng, thì lạm phát sẽ trở lại khi bong bóng tài sản đủ lớn…

“Bong bóng tài sản” là một thuật ngữ kinh tế. Mọi tài sản, mọi khoản đầu tư đều sẽ có rủi ro đi kèm với nó, không có rủi ro thì không có lợi nhuận. Rủi ro cao hay thấp phụ thuộc vào mỗi tài sản khác nhau. Nhưng dù cho đó là loại tài sản gì đi chăng nữa, luôn luôn tiềm ẩn khả năng xảy ra “bong bóng tài sản”.

Bong bóng tài sản là kết quả tạo ra từ những cảm xúc cảm tính của con người trong thị trường. Khi các nhà đầu tư có một lượng tài sản quá tải và trở nên ảo tưởng trong suy nghĩ rằng khoản đầu tư này là vô tận, tạo ra lợi nhuận vô tận.

Một trường hợp bong bóng tài sản hay được báo chí nhắc đến, đó chính là bong bóng bất động sản. Nhiều người đã mất rất nhiều tiền khi bong bóng vỡ. Tuy nhiên, một vài nhà đầu tư hiểu biết thì đã nhìn thấy được rằng khoản đầu tư đang lên đó chỉ là bong bóng và có cách để bảo vệ mình. Trong mỗi bong bóng tài sản, có bốn giai đoạn khác biệt, đó là: Tiềm ẩn, Nhận thức, Phấn khích và Đổ vỡ.

“Là một nền kinh tế nhỏ, phụ thuộc đặc biệt vào dòng vốn đầu tư từ các nền kinh tế trong khu vực, Việt Nam sẽ là một trong số những nơi chịu ảnh hưởng đầu tiên và mạnh nhất nếu những nền kinh tế này gặp trục trặc, tức sự đổ vỡ của bong bóng”. Đó là nhận xét của nhà báo Thảo Vy đến từ Hội Nhà báo độc lập Việt Nam.

Nhà báo nói rằng đến nay ông đang chờ nhà chức trách đưa ra báo cáo về những con số của tách giá trị của khối FDI (Foreign Direct Investment, đầu tư trực tiếp từ doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam) ra khỏi GDP, qua đó để thấy thực chất giá trị sản xuất của Việt Nam. “Tôi thấy bất an vì kiếm tiền khó hơn mà chi phí đóng góp cho xã hội đang tăng nhanh chóng”. Nhà báo Thảo Vy nói, và cho rằng ông cần một cam kết từ Chính phủ về việc làm sao để tăng trưởng bền vững…

Nguyễn Cao – Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s