20170716T103157Z_2118251303_RC1E799DEC00_RTRMADP_3_THAILANDBUFFALORACE.JPG
Vấn đề: Trâu phải trả lại cho chủ, Nguyên Đơn, nhưng chủ, ông TVH., có phải trả tiền cho Bị Đơn, ông C., người cầm giữ, quản lý trâu [possessor (property law)] không? Liệu Điều 242 của bộ luật dân sự năm 2005 có thể áp dụng được triệt để và giải quyết thoả đáng cho đôi bên trong vụ kiện dưới đây không?

Pháp luật: Điều 242, Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định “Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc” như sau: “Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Chủ sở hữu nhận lại gia súc bị thất lạc phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được”.

Giải Quyết: Tuyệt nhiên không thể buộc Nguyên Đơn, ông TVH., phải trả tiền cho Bị Đơn, ông NLC., về việc Bị Đơn cầm giữ, quản lý trái phép con trâu, tài sản, nhu cầu sống của Nguyên Đơn và gia đình của ông H. Điều 242 của bộ luật dân sự 2005 không thể giải quyết, không thích hợp, và không thể áp dụng tuyệt đối được trong vụ nầy–cần phải lý giải trên nhiều góc cạnh và rồi đưa yếu tố vi phạm hình sự của Bị Đơn, ông C. để tiến hành xét xử ông C. về các ý đồ, hành động vi phạm hình sự.

Nhập.

Liên tiếp trong nhiều ngày qua, trên mạng loan tải thông tin về dư luận, bàn thảo, tranh cãi, phê bình, đánh giá, hội họp, hội thảo lấy ý kiến liên quan đến vụ án có thể đưa đến “án lệ” thuộc quyền hạn xét xử và phán quyết của Toà Án Nhân Dân Tối Cao Việt Nam. Một cuộc hội thảo đã do Chánh Án TAND Tối Cao, Ông Nguyễn Hoà Bình chủ trì. Khá nhiều giới tri thức quan tâm, đặc biệt là giới luật sư đang hành nghề luật dân sự, trọng tài viên, hoà giải viên, giáo sư, sinh viên luật và nhiều giai cấp xã hội nói chung.

Không một ai thắc mắc, quan tâm, hoặc bàn cãi thêm về phán quyết của toà án nhân dân Hà tĩnh về việc trâu đã được hoàn trả lại cho chủ nhân, Nguyên Đơn, ông H. Còn lại chăng, là việc toà phúc thẩm phán quyết, buộc chủ trâu phải trả tiền cho người cầm giữ trâu với số tiền $40,000/ngày trong suốt thời gian trâu bị cầm giữ tại nhà vườn của ông C., Bị Đơn, đã gây phản ứng với nhiều ý kiến phản đối gay gắt với bản án.

Tóm lượt vụ án:

Ngày 4-7-2015, ông TVH bị mất một con trâu. Ông đi tìm và phát hiện trâu bị xâu mũi, buộc tại nhà của ông NLC. Ông H. báo với chính quyền địa phương yêu cầu giải quyết. Chính quyền hòa giải không thành, ông H. yêu cầu thả trâu ra, trâu nhà ai thì thuộc quyền sở hữu người đó nhưng ông C. không đồng ý vì cho rằng đây chính là trâu của mình.

Ông H. khởi kiện. Ngày 3-11-2015, tòa sơ thẩm đã tạm giao con trâu cho bị đơn quản lý trong thời gian giải quyết vụ án, nếu để xảy ra thiệt hại thì phải bồi thường. Con trâu sau đó được định giá trị là 30 triệu đồng.

Tháng 7-2016, TAND TX Kỳ Anh (Nghệ An) xử sơ thẩm, buộc ông C. phải trả lại con trâu cho ông H. Ông C. kháng cáo. Tòa phúc thẩm quyết định cho giám định ADN của con trâu (không rõ ngày). Phía ông C. đã đưa con trâu mà ông cho rằng là “mẹ đẻ” của con trâu đang tranh chấp, kết quả hai con trâu này không có mối quan hệ huyết thống.

Phân Tích:

Luật: Điều 242, Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định “Xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc” như sau: “Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ và báo cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Chủ sở hữu nhận lại “gia súc bị thất lạc” phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được”.

Gia súc bị thất lạc: Có phải con trâu trong vụ nầy “bị thất lạc” không? Nếu trâu “bị thất lạc”, thất lạc bao lâu? Vậy, Nguyên Đơn, ông H. đã hành xử đúng theo qui luật, Điều 242 qui định không? Ông đã làm gì? Ông đã báo cáo ngay với chính quyền địa phương về việc mất trâu của ông không? Chính quyền địa phương đã xử lý, giải quyết như thế nào sau khi được ông H. báo cáo?

Nếu là trâu “bị thất lạc”, thế Bị Đơn, ông C. đã thi hành đúng với Điều 242 chưa? Nghĩa là, ông C. phải “báo cáo” ngay với Uỷ Ban Nhân Dân xã, phường, thị trấn nơi ông C. cư trú–rằng, ông vừa tìm thấy con trâu thất lạc–trong trường hợp, bối cảnh, nhân chứng kèm theo không? Hay ông C. âm thầm xỏ mũi trâu, dẫn trâu về nhà, và mặc nhiên cho rằng, trâu của ông, mà không thi hành đúng trách nhiệm công dân như Điều 242, không hề lên tiếng cho ai biết–rằng ông đã tìm lại được con trâu đã mất 4 năm rồi, để hàng xóm láng giềng cùng chia vui xẻ mừng với ông–con trâu, tưởng mất, nay lại tìm thấy–tưởng chết, mà nay hãy còn sống.

Nếu, con trâu trong vụ nầy tuyệt nhiên không phải là trâu “thất lạc”, tất nhiên, Điều 242 không thể áp dụng được. Một điều đáng ngạc nhiên là, không biết con trâu của Bị Đơn, ông C. mất từ khi nào, năm nào, hoàn cảnh nào, mà ông dám tuyên bố rằng, ông nhận diện ra được ngay con trâu của ông bị mất 4 năm rồi–phải chăng, từ ngày con “nghé” nhỏ tí, sau 4 năm, đã lớn mạnh, đã thành con trâu hữu dụng cho việc đồng áng, ông C. mãi mãi có trong đầu hình ảnh biến dạng, đổi thay của con trâu con, con nghé, con trâu mà chính con trâu mẹ của ông đã cưu mang, sinh hạ, với những nét rất đặc thù của nó, có thể phân biệt giữa con trâu ông C. mất, và con trâu ông cho rằng ông mới tìm lại được?

Điều 242 buộc chủ gia súc–trâu, “phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được.” Vấn đề là, ông C. bắt được “trâu lạc”, hay trâu “không lạc” của ông H., mà ông C. tự nhận là trâu của ông, nên yếu tố “gia súc bị thất lạc” của Điều 242 không thể áp dụng trong vụ nầy, và không thể sử dụng Điều 242 để giải quyết-nếu, trâu của Nguyên Đơn, ông H. tuyệt nhiên không thất lạc, nhưng chính ông C. đã xỏ mũi trâu ông H. khi ông H. không hiện diện, không có mặt, không thể bảo vệ súc vật, tài sản của riêng ông.

Điều 242 cũng không thể áp dụng được-Vì, điều 242 hoàn toàn không nói lên những tình tiết, yếu tố khác, liên quan trực tiếp và gián tiếp đến việc cầm giữ, quản lý trâu của ông C. Vấn đề là, ông C. đã làm gì, đã chăm sóc, thuốc men, nuôi nấng, sử dụng, hưởng mọi lợi ích do con trâu làm ra (benefits which the buffalo generated). Trong vụ nầy, nếu ông C. đã sử dụng toàn diện khả năng của con trâu, để làm lợi, sinh lời, và tận hưởng mọi phúc lợi từ nơi con trâu, làm sao có thể đo lường được tất cả những phúc lợi (benefits) ấy?

Có khá nhiều thông tin, dữ kiện không rõ, chứng cứ không đầy đủ, thiếu mạch lạc, ăn khớp, từ khi ông H., Nguyên Đơn, khám phá ra mình mất trâu, 4/7/2015, và đi tìm–Bao lâu sau, bao nhiêu giờ, ngày, tháng, ông H. tìm ra con trâu. Yếu tố, lý do nào đưa ông H. đến nơi ông C, Bị Đơn, giữ trâu? Làm sao ông C. nhận diện ra là trâu của ông sau 4 năm? Phải chăng từ lúc trâu mới sinh? Hay 1, 2, 3, năm sau khi sinh, nghĩa là từ lúc con “nghé” con, đến khi hoàn toàn phát triển vầ thế lý đến khi thành con trâu? Đặc tính gì giúp ông C. nhận điện và doan chắc rằng, ất chính là trâu của ông?

Điều tra: Khi mất gia súc với giá trị vài chục triệu đồng, công an, cơ quan có chức năng điều tra, có thẩm quyền, có trách nhiệm, nên tiến hành điều tra lập tức, bảo quản bằng chứng, nhân chứng và vật chứng không? Nếu không, toà án sơ thẩm đã dựa trên chứng cứ, nhân chứng, thông tin, lý luận, lý đoán gì để đi đến phán quyết giao cho Bị Đơn, ông C. quản lý con trâu? Quản lý trâu với những điều kiện gì? Chăm sóc, nuôi nấng, sử dụng, làm lợi, sinh lời?

Hoà Giải: Phải chăng chính quyền địa phương, xã, huyện, thị trấn, là nơi có những hoà giải viên dân sự có những kiến thức, đào tạo và kinh nghiệm ắt và đủ để giải quyết việc tranh chấp gia súc?
Hoà giải viên trong vụ nầy có kiến thức, am tường, khái niệm và lý giải vững chắc Điều 242 như trình bày trên đây không? Phải chăng hoà giải là bước tiến đầu tiên, phải có, để giải quyết khiếu nại “trâu” nầy?

Xử Sơ Thẩm: Khởi đầu công tác xét xử, thẩm phán của toà sơ thẩm có đưa yếu tố “gia súc thất lạc” và đòi buộc Nguyên Đơn, ông H. phải chứng minh rằng, trâu trong vụ nầy hoàn toàn không phải là trâu “thất lạc” không? Nếu Nguyên Đơn chứng minh được với những bằng chứng khả tin–thế Bị Đơn, ông C. phản biện thế nào? Có chứng cứ gì, chân chứng nào, vật chứng gì, hổ trợ phản biện của ông C. tại phiên xử rằng, ấy quả thật là trâu “thất lạc” của ông bao nhiêu năm nay. Ngoài ra, từ ngày xử đầu tiên tại toà sơ thẩm Kỳ Anh, 3/11/2015, cho đến kết thúc vụ án vào tháng 7 năm 2016, (hơn 8 tháng) toà có những chuyên gia kinh tế (economist) nào đã thẩm định con trâu trong vụ kiện, nghiên cứu thị trường, vật giá đắt đỏ tại địa phương, xác định rằng, con trâu trị giá 30 triệu đồng? Trị giá 30 triệu đồng theo giá của những người mua về làm thịt bán, hay giá trị kinh tế của con trâu có thể tạo ra, làm nên (generate) trong suốt cuộc đời, tuổi của trâu–5, 10, 15 năm? Thay vì tính theo giá thịt trâu ngoài chợ, thì sức lao động của trâu mang lại cho chủ được bao nhiêu–trừ đi tất cả các khoản chi phí khác trong việc nuôi dưỡng trâu–ăn uống, chuồng trại, thuốc men, v.v.?

Trước khi đi đến phán quyết, ngoài chứng cứ ADN, toà án sơ thẩm đã có đầy đủ chứng cứ, vật chứng, nhân chứng, cộng với bản báo cáo của chuyên gia kinh tế (economic appraisal) để kết luận rằng, trâu thuộc về Nguyên Đơn? Vì nếu có những nhân chứng, vật chứng, chứng cứ, cộng với ADN, khẳng định rằng con trâu thuộc về quyền sở hữu của Nguyên Đơn, ông H.–thế thì, Bị Đơn, ông C., phải là người gian dối, bội thề (nếu đã thề khai sự thật trước toà), khinh thường luật pháp, coi rẽ công lý, cố tình khước từ quyền sở hữu và tướt đoạt quyền sử dụng tài sản, gia súc của Nguyên Đơn, ông H.

Một điểm đáng chú ý, đánh giá, và phán xét, đó là hành vi nguỵ tạo, gian xảo, xem thường công lý và luật pháp của Bị Đơn, ông C. qua bằng chứng ông C. đã dám đưa con trâu mà ông cho rằng là “mẹ đẻ” của con trâu đang tranh chấp, để lừa dối luật pháp, làm ô nhiễm tiến trình điều tra, xét xử, và lũng đoạn giá trị công lý của xã hội. Thế nhưng, sự gian dối và man trá của ông không thể qua mặt được chứng cứ khoa học. Toà đã cho thi hành trắc nghiệm ADN, và kết quả khoa học chứng minh hai con trâu này hoàn toàn không có mối quan hệ huyết thống (có thể họ hàng 2, 3, 4 đời), đừng nói chi quan hệ “mẹ-con”.

Đúng ra, toà sơ thẩm phải nhận diện ra ngay yếu tố và hành vi cố tình xem thường luật pháp và công lý của Bị Đơn, ông C., khởi đầu từ yếu tố trâu “thất lạc”, hay trâu bị xỏ mũi dẫn đi khi ông H. không có mặt, toà có thể quyết định ra lệnh chế tài (sanction) và phạt Bị Đơn ngay–riêng về hành vi cố tình coi thường luật pháp và xem rẽ công lý của ông C.–đừng nói chi quyết định “giao trứng cho ác”–giao Bị Đơn, ông C. tiếp tục quản lý, cầm giữ con trâu (sử dụng?), mà không hề có những điều kiện ràng buộc.

Ngược lại, chính trong phiên Hoà Giải, ông H., Nguyên Đơn, đã hoàn toàn tự tin, thành tâm, và chân thật–thật đến nỗi ông tin rằng, “trâu mình sẽ trở về lại với mình”. Ông H. dám, can đảm, cương quyết yêu cầu Bị Đơn, ông C. thả trâu ra, lý giải rằng “trâu về nhà ai thì thuộc quyền sở hữu người đó.” Có lẽ, trong tâm tưởng, Nguyên Đơn, ông H. liên tưởng đến câu vè dân gian mà ai nấy trong làng đều thuộc, “Trâu ta ăn cỏ đồng ta-Tuy rằng cỏ cụt nhưng là cỏ thơm”

Nhưng, Bị Đơn, ông C. cự tuyệt, không đồng ý, lý luận vu vơ rằng đấy là trâu của ông. Sự kiện nầy làm người đọc liên tưởng ngay đến thần lý của Vua Solomon–khi hai người đàn bà giành con–một bà nói, “đứa con sống, là con của tôi-đứa chết, con của bà.” Bà kia đáp, “Không, đứa chết là con của bà-đứa sống là con của tôi.” Bà có con chết liền lên tiếng, “Chẳng phải của tôi hay của bà, chẻ đứa trẻ làm đôi.” Vua phán, “Giao đứa con cho người không muốn xẻ con làm đôi–ấy chính là người mẹ đứa bé.” King Solomon’s Judgment (I Kings 3:16)

Toàn Phúc Thẩm:

Các thẩm phán của toàn phúc thẩm đã có đầy đủ bằng chứng, chứng cứ, báo cáo điều tra–rằng, trâu trong vụ nầy là trâu “thất lạc” hay trâu [không] “thất lạc”–dựa theo Điều 242? Nếu toà phúc thẩm đã có đầy đủ văn kiện, tài liệu, hồ sơ, chứng cứ, thông tin từ toà sơ thẩm trình lên, thì ít ra, toà phúc thẩm phải nhận diện ra ngay thái độ và hành vi cố tình xem thường luật pháp và công lý của Bị Đơn, ông C. qua hành động nguỵ tạo bằng chứng, dám đưa trâu khác họ, lạ máu, khai với toà rằng, ấy chính là “mẹ đẻ” của con trâu trong vụ thưa kiện nầy. Đàng nầy, toà phúc thẩm không những không nhận diện ra sự vi phạm luật pháp trắng trợn của Bị Đơn, ông C., lại còn lên tiếng bảo vệ quyền lời của ông–lý giải rằng, “để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho cả hai bên.” Không khác gì, toà nhân danh pháp luật và công lý –bênh vực và bảo vệ quyền lợi của những kẻ bất lương, xem thường luật pháp và hiến quyền của thẩm phán các cấp.

Hơn thế nữa, toà phúc thẩm đã dựa vào chứng cứ khoa học nào về công tác nghiên cứu kinh tế, đánh giá, và thẩm định giá trị thị trường của con trâu trong cuộc, mà đi đến kế luận rằng, Nguyên Đơn, ông H. phải trả Bị Đơn, ông C. $40,000/ngày, thế là phù hợp–tổng số lên đến hơn 10 triệu đồng–đấy là tiền công chăm sóc con trâu từ ngày 3/11/2015 đến ngày tuyên án sơ thẩm?

Lý Giải (Argument):

Đưa vụ kiện nầy vào “án lệ” quả là một sự bôi bác hệ thống pháp lý và cơ chế xét xử của hệ thống pháp lý và ngành tư pháp Việt Nam bởi những lý yếu tố sau đây:

Cơ chế điều tra và xét xử.

Trước khi đưa vụ nầy lên phòng Hoà Giải, sự kiện nầy phải được cơ quan hữu trách, công an, điều tra đầy đủ, trong đó, lời khai của hai bên, nhân chứng và vật chứng. Mọi chứng cứ phải được đúc kết lại bằng văn bản, kiểm tra, thanh lọc, so sánh và đánh giá khách quan. Cả khu, cả xóm, cả làng, họ hàng, bằng hữu, có ai biết ông H. và ông C. có trâu không? Trâu của mỗi người ra sao? Họ đã có trâu từ khi nào, từ đâu ra? Đã sử dụng trâu vào những việc gì, có ai thấy, mấy ai biết, nào ai nghe? Có ai đã nhờ, đã sử dụng, đã mướn trâu của Nguyên Đơn, ông H., trong các công việc theo khà năng con trâu không?

Hoà Giải.

Như đã nói trên, Hoà giải viên (Mediator) đắc thủ, được đào tạo và có những kiến thức, kinh nghiệm ắt cho công tác hoà giải–cùng với kiến thức luật pháp cơ bản và cụ thể về Điều 242, để đảm nhận công tác hoà giải trong vụ nầy không. Yếu tố “kín muật” (confidentiality), hồ sơ lưu (recorded records) có được áp dụng triệt để theo luật pháp và tập quán của địa phương không? Nếu không, toà sơ thẩm có sử dụng bất cứ thông tin nào trong tiến trình hoà giải, hay báo cáo của hoà giải viên sau khi cuộc hoà giải đã kết thúc, trong các phiên xét xử tại toà sơ thẩm không?

Toà Sơ Thẩm.

Trước khi xét xử, toà và giám sát viện đã có đầy đủ chứng cứ, vật chứng, nhân chứng, giấy tờ khai báo, kiểm tra, kiểm định, đánh giá, trước khi quyết định giao cho Bị Đơn, ông C. tiếp tục quản lý con Trâu, mà không hề có những điều kiện ràng buộc kèm theo. Thử hỏi, Bị Đơn, ông C. đã làm gì với con trâu trong suốt thời gian quản lý con trâu? Ông đã sử dụng vào bất cứ một công việc gì có ích cho ông hoặc gia đình, bàn bè, hàng xóm của ông không–dù chỉ là cởi trâu đi chơi. Ông C. đã chứng minh cho toà biết tổng số tốn kém, chi phí, nuôi ăn, thuốc men, chuồng, chái, chòi che mưa trú nắng cho trâu không? Phải chăng toà hoàn toàn bị mù quáng qua việc lương lận, gian dối, man trá của Bị Đơn, ông C., khi ông dám trình đến toà con trâu khác–để rồi, chính toà đã sử dụng trắc nghiệm khoa học ADN để khẳng định rằng, tất cả mọi mánh khoé gian dối và xão quyệt, lừa đảo toà hệ thống pháp lý của ông C. đã bị phanh phui, bóc trần trước công luận, với chứng cứ không thể chối chạy được của ADN.

Toà Phúc Thẩm.

Nếu, với những thiếu sót vô cùng đơn thuần và hiễn nhiên của toà sơ thẩm, vì bất cứ lý do gì, mà toà phúc thẩm lại nhắm mắt đưa chân, không thẳng thắng bóc trần thái độ và hành phi xem thường công lý của Bị Đơn, ông C., lại còn sử dụng quyền hạn của toà cấp cao hơn, phúc thẩm, để đi đến phán quyến buộc Nguyên Đơn, ông H. phải chạy tiền trả cho Bị Đơn, ông C., với danh nghĩa là công bằng, hợp lý, mà quên rằng chính phán quyết của toà phúc thẩm lại đồng loã với mưu đồ và bênh vực hành động man trá của Bị Đơn. Đã vậy, vụ nầy được đưa lên toà án nhân dân tối cao để trở thành “Án Lệ” cho mọi vụ án có những yếu tố tương tự trong tương lai, 10, 50, hay 100 năm sau–thật là điều hết sức đáng quan tâm.

Thiệt Hại.

Thông thường, người hoặc bên Nguyên Đơn phải chứng minh thiệt hại của mình cách cụ thể, với chứng cứ, bằng chứng, đo lường được, thì mới dám dấn thân vào thưa kiện, ngoại trừ những trường hợp thiệt hại không, hoặc khó đo lường được, như thiệt hại danh sự, uy tín, tiếng tăm, thể diện, hay đau đớn trong thân xác, buồn phiền trong tâm thần, v.v.

Để được bồi thường thiệt hại, toà phúc thẩm phải buộc Bị Đơn, ông C. chứng minh mọi thiệt hại có thể kiểm chứng, đo lường và kiểm định cụ thể bởi chuyên gia kinh tế. Sau khi tổng kết những thiệt hại, toà lại phải buộc Bị Đơn kê khai, tổng kết mọi phúc lợi, ích lợi, vật chất cũng như tinh thần và tất cả những gì con trâu đã mang lại cho ông và gia đình ông từ khi ông xỏ mũi trâu dẫn về nhà cho đến khi ông giao lâu lại cho Nguyên Đơn, ông H. theo phán lệnh của toà. Từ đó, toà mới đem tổng số những thiệt hại gì Bị Đơn đã chứng minh–trừ đi những phúc lợi, lợi ích và quyền lợi, từ vật chất đến tinh thần mà ông và gia đình ông đã thụ hưởng từ khi dẫn trâu của Nguyên Đơn về nhà cho đến ngày giao trâu lại cho Nguyên Đơn. Thử so sánh, bên nào nặng cân hơn.

Đấy, nếu là trường hợp trâu của Nguyên Đơn, ông H. quả đã “thất lạc” thật, thất lạc một cách hiễn nhiên, với chứng cứ rõ ràng–đừng nói chi ông C. tự động tới xỏ mũi trâu của Nguyên Đơn mang về, không khai báo cho chính quyền địa phương, không thông báo với hàng xóm láng giềng rằng chính ông đã nhận diện và tìm lại được con trâu của ông thất lạc, mất từ thuở còn là một con “nghé” tí teo cho đến lúc 4 tuổi đời.

Dựa vào phán lệnh của toà sơ thẩm, giám định khoa học ADN đã chứng minh tuyệt đối rằng con trâu trong vụ kiện nầy hoàn toàn không phải là con trâu mà Bị Đơn, ông C. đã cố tình hay vô ý xỏ mũi dẫn về. Sau khi giám định ADN, Bị Đơn, ông C. nào còn lời gì để phản bác về sở hữu chủ con trâu thuộc về Nguyên Đơn, ông H. Nếu đã không một lời thú tội, một câu xin lỗi Nguyên Đơn, ông H. Sao Bị Đơn, ông C. lại bất chấp tất cả, tình lẫn lý, để khiếu nại lên toà phúc thẩm–đòi Nguyên Đơn bồi thường? Bồi thường gì đây? Dựa vào cơ sở nào? Pháp luật nào? Bị Đơn mong gì đây? Muốn gì nữa sau khi đã biết mọi chứng cứ của chính ông chỉ là nguỵ tạo, bịa đặt, thiếu chứng cứ khách quan và khoa học.

Tóm lại, một người muốn lôi kẻ khác ra công luận, đến pháp đình, xét xử nơi công cộng, thì chính được sự phải sờ lại trong ruột gan của mình để đong đếm bao nhiêu thiệt hại, thương đau mà kẻ khác gây nên, chịu hết nỗi, không còn cách giải quyết nào khác–buộc lòng phải lôi nhau ra phái đình. Trong vụ nầy, chứng cứ rõ ràng Bị Đơn, ông C. tuyệt nhiên không có quyền hạn, sở hữu chủ nào trên con trâu mà ông xỏ mũi dẫn về cả. Ông C. không có quyền sở hữu chủ–tất nhiên, không có quyền gì hết, và từ đó, không một chút thiệt hại gì. Ngược lại, chính Bị Đơn, ông C. đã gây không biết bao nhiêu thiệt hại cho Nguyên Đơn, ông H. Tại sao toà phúc thẩm lại mang danh pháp luật và công lý để buộc Nguyên Đơn, ông H. trả tiền quản lý trâu cho Bị Đơn, ông C.?

Văn Hoá và Đạo Đức.

Dựa vào những thông tin, dữ liệu, chưa được kiểm chứng, người ngoài cuộc, tuy không đến nỗi nông cạn hay hồ đồ, nhưng cũng có thể nhìn nhận ra ngay rằng chính Nguyên Đơn, ông H. là người nạn nhân duy nhất trong vụ nầy. Ông đã mất trâu, một gia súc đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác đồng áng, kế sinh nhai, và là một sinh vật rất gần gũi mới mọi người trong gia đình ông. Với Nguyên Đơn, ông H., con trâu là tất cả–có lẽ, bởi vì ông luôn quan niệm theo văn hoá tinh ròng của người nông dân Việt, về giá trị và chỗ đứng của trâu trong gia đình, cuộc sống và sự nghiệp người nông dân, được nhắc đi lặp lại mãi qua bao thế hệ: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”.

Một con vật đồ sộ, khổng lồ, với giá thị trường trên 30 triệu đồng, thử hỏi, có một con vật, gia súc nào có giá trị hơn, có ích lợi hơn, thân thương hơn? Nếu con trâu đã biết nói tiếng người, đã biết hét lên để mọi người cùng nghe–giờ đây, sẽ không một ai tốn bút giấy và thời gian để bàn tán, viết lách. Rất may, trâu là một giống gia súc rất ư hiền lành, chịu đựng, nhẫn nhục, âm thầm, chỉ biết suốt kiếp phục vụ, không sinh lời, không tích lũy lợi nhuận, không so đo hơn thua, không phân biệt chủ tớ, không chê kẻ giàu người nghèo–ngay cả kẻ gian người ngay–trâu vẫn là trâu muôn thuở, âm thầm, chịu đựng, dầm mưa giải nắng và phục vụ.

Trâu đã là một phần của văn hoá Việt, đã đi vào văn học. Từ mười hai (12) con giáp, Trâu–“Sửu”, đã trở thành một biểu tượng khá quan trọng–hàng triệu triệu người, qua bao thế hệ, vẫn gắn liền cuộc đời, vận mệnh của mình với “Trâu-Sửu”. Trâu đã trở thành thân thương như một người bạn, biết chia sẻ, biết cùng gánh vác, cùng đồng cam cộng khổ, để rồi được nghe lời thì thầm “Trâu ơi ta bảo trâu nầy . . .” Như vừa nói, nếu trâu mà biết tiếng người, trâu sẽ rơi lệ khi biết người “thì thầm” với trâu. Vì, người và người đã mời gọi, đã xem trâu như là bạn thân, là phần tử gắn bó với gia đình nông dân, quanh năm bốn mùa mưa nắng, như người dân quê chất phát, chân thật, không hề biết gian dối, không điêu ngoa, không manh tâm như Bị Đơn, ông C.

Muốn đánh giá sự thiệt hại một cách chính xác của một nạn nhân như Nguyên Đơn, ông H. trong vụ nầy, chúng ta phải đi trong giày của ông, phải đặt mình vào trong bối cảnh của gia đình ông, đặt mình vào trong cương vị chủ gia đình, người đứng mũi chịu sào trong việc canh tác, kinh tế gia đình, người mang lấy trọng trách đem lại cơm no áo ấm cho vợ con, cha mẹ (provider). Ngạn ngữ người thổ dân Mỹ đã có câu, “Lạy đấng chí tôn, xin cho tôi đừng xét đoán người láng giềng mình, đến khi tôi đã đi trong đôi giày của anh ta một dặm–Great Spirit, grant that I may not criticize my neighbor until I have walked a mile in his moccasins” Native American proverb.

Nguyên đơn, ông H., đã một lần là nạn nhân của Bị Đơn, ông C. Bị Đơn đã ngang nhiên cướp trâu của ông H., rồi gian dối cả chính miệng lưỡi mình, gian dối với chính quyền địa phương, gian dối ngay trong tiến trình hoà giải, man trá ngay trong các phiên xử của toàn sơ thẩm. Chưa đong đầy lòng dạ manh tâm, Bị Đơn, ông C. tiếp tục kéo dài vụ kiện đến toà phúc thẩm, toà án tối cao–không gì khác ngoài sự thèm khát vật chất, tiền bạc, và sẵn sàng chà đạp ngay trên danh dự, thể diện, không những của cá nhân ông đã đành, còn bôi nhọ lên cả danh dự và thể diện của gia đình ông, dòng tộc, hàng xóm, xã hội–âu cũng chỉ vì mấy đồng tiền.

Kết (Conclusion).

Qua vụ nầy, chúng ta nhìn về ít nhất bốn (4) góc cạnh khác nhau: 1) Luật pháp (Điều 242); 2) Kinh tế; 3) Đạo đức; và 4) Văn hoá. Để rút ra những bài học đáng cho chúng ta suy gẫm, đưa vào giáo dục và áp dụng trong đời sống thường nhật–đòi hỏi nhiều thời gian.

Qua góc độ pháp lý, Bị Đơn, ông C. phải hoàn trả trâu lại ngay cho Nguyên Đơn, không được nhận bất cứ khoản tài chánh, tiền bạc nào từ Nguyên Đơn–nếu chưa bàn đến việc Bị Đơn phải chịu hoàn toàn mọi thiệt hại do thái độ, hành vi và não trạng cố chấp của ông. Xa hơn nữa, Bị Đơn phải bị truy tố về tội hình sự, trộm trâu–khai man, gian dối, man trá, nguỵ tạo bằng chứng, bịa chứng cứ, xem thường luật pháp và chà đạp công lý (abuse process)–dựa trên tất cả những lời khai man, chứng cứ gải tạo, bịa đặt như “trâu mẹ–trâu-con; và nhất là bằng chứng giám định khoa học ADN.

Bị đơn, ông C., phải bị trừng trị xứng đáng (punitive damages), làm gương cho bao người có những manh nha trộm cắp, lường gạt và xem thường luật pháp như Bị Đơn trong vụ nầy–để công lý được thể hiện, và công bằng được mang lại cho nạn nhân. Chính Nguyên Đơn, ông H., sẻ phải được toà án buộc Bị Đơn, ông C. bồi thường mọi thiệt hại trong suốt thời gian mất trâu, cộng thêm mọi tốn kém, chi phí cho vụ kiện, cùng với những tổn hại tinh thần, khủng khoảng đời sống nội tâm và gia đình. Thêm vào đó, toà phải xử phạt cảnh cáo Bị Đơn, ông C. (punitive damages) với số tiền ít nhất gấp (3) lần (treble damages) những thiệt hại mà Bị Đơn ông C. đã cố tình, ác tâm (malice) gây ra cho Nguyên Đơn, ông H. và gia đình của ông.

BERNARD NGUYEN 

Người viết tạm dừng lại nơi đây, dành chỗ . . . .100-200 trang, cho các bạn, đồng nghiệp, giáo sư, giảng viên, sinh viên, luật sư, thẩm pháp, học giả, chuyên gia pháp luật và các chuyên gia của nhiều lãnh vực khác, góp ý với tinh thần xây dựng. Mong.

Những nhận định thoáng qua trên đây chỉ dựa trên thông tin rất giới hạn, qua lăng kính một người học là hành nghề trong lãnh vực luật pháp tại Mỹ. Những chia sẻ vội viết ra đây hoàn toàn với tính cách cá nhân, chủ quan, vô tư, nghĩ ngay, nói thẳng (tuy hay mất lòng), không thiên vị một ai, cấp, cơ quan, toà án, hay cá nhân nào–đặc biệt, hoàn toàn không có dụng ý gì ngoài sự chia sẻ chân thành sau khi nhận được thông tin của một số các bạn trong nước chuyển tới. Rất mong các bạn và đồng nghiệp chia sẽ.

❖❖❖

Tham khảo:
[1] Một án lệ về vụ án mất trâu bị phản đối gay gắt
http://www.baomoi.com/mot-an-le-ve-vu-an-mat-trau-bi-phan-doi-gay-gat/c/22819457.epi?utm_source=mobile&utm_medium=facebook&utm_campaign=share

[2] King Solomon’s Judgment (I Kings 3:16)
http://www.law.harvard.edu/publications/evidenceiii/problems/1.htm

[3] Punitive damages
https://en.wikipedia.org/wiki/Punitive_damages

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s