Hình minh họa bởi họa sỹ Rose Nguyễn
Hình minh họa bởi họa sỹ Rose Nguyễn

Căn cứ vào Điều 28, Hiến pháp 2013, bài viết này xin được góp ý về dự án luật về Quyền lập hội, đồng thời kiến nghị tu chỉnh Hiến pháp để đáp ứng với tiến trình hội nhập mới của Việt Nam.

Bộ Nội vụ là cơ quan được giao soạn thảo dự luật về Quyền lập hội. ( Có thể tham khảo chi tiết nội dung của dự án luật này tại trang Thư viện Quốc hội, địa chỉ: http://bit.ly/2LTaUoK) .  Tuy nhiên đến nay, khi mà Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương [Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – CPTPP] đã có hiệu lực thi hành, song dự luật về Quyền lập hội vẫn chưa rõ bao giờ sẽ tái trình Quốc hội.

Căn cứ Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế 2005, được sửa đổi và có tên mới là Luật Điều ước quốc tế, đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 09 tháng 4 năm 2016, hiện đã có thể tiến hành bàn soạn về tu chỉnh Hiến pháp 2013, và tái khởi động dự thảo luật về Quyền lập hội.

Đặt vấn đề tu chỉnh Hiến pháp 2013 có thực tế hay không?

Để các văn bản luật phù hợp với CPTPP, cũng như các Điều ước quốc tế, có lẽ cần điều chỉnh câu từ một số điều ở Hiến pháp 2013.

Hiến pháp 2013, Điều 4.1: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Khi Việt Nam đã tham gia vào các Điều ước quốc tế, thì yêu cầu đảng cộng sản là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” sẽ là nhập nhằng về giá trị pháp lý – ngoại trừ trường hợp cơ quan đảng với cơ quan chính quyền hợp nhất thành một.

Ngoài ra, cần thiết chấm dứt phân biệt về “quyền lợi chính trị” giữa “công dân – đảng viên” và “công dân – không đảng viên” trong tất cả mọi hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Điều này đã được xác lập tại Điều 14: “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

Ngoài ra việc Hiến định ở Điều 4.2 “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”; Điều 4.3: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” là những nội dung cần thiết sớm có sự rõ ràng.

Cho đến nay chưa có quy định rõ tổ chức đảng và đảng viên hoạt động theo khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật là gì? Có phải là chỉ mang tư cách cá nhân là công dân, và tổ chức thì hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật thôi?. Còn với tư cách là đảng viên, thành viên trong tổ chức Đảng thì hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là gì thì chưa được thể chế hóa bằng văn bản pháp quy; cũng chưa thể chế hóa để cho người dân biết phải làm cách nào để giám sát tổ chức đảng và đảng viên.

Nếu căn cứ vào các thỏa thuận về Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, thì nội dung của Điều 4, Hiến pháp 2013 tiếp tục lấn cấn về mặt pháp lý: Đảng cầm quyền hay đảng lãnh đạo?. Nếu là Đảng Cộng sản cầm quyền thì có nghĩa Đảng Cộng sản quyết định tất cả?. Còn nếu Đảng Cộng sản không phải là đảng cầm quyền, thì cụm từ “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” được hiểu ra sao?

Cho đến nay, vấn đề gì Quốc hội không đạt sự đồng thuận, thường chuyển qua cho Bộ Chính trị – cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng Cộng sản quyết định. Trong khi đó, nếu là Nhà nước pháp quyền thì mỗi chính sách gì Đảng đưa ra cũng phải thuyết phục Quốc hội. Quốc hội có thể đồng ý hoặc không đồng ý. Không bao giờ xảy ra việc Bộ Chính trị đã quyết rồi và Quốc hội phải bắt buộc phải chấp thuận.

Sửa đổi không có nghĩa là phản động, là chống Nhà nước

Từ cách nhìn nói trên, xin được đề xuất sửa đổi theo hướng làm gọn gàng hơn câu từ: “Điều 4: 1. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành với dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng gắn bó mật thiết với Nhà nước và xã hội. 2. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Tương ứng, để đồng bộ với nội dung thay đổi ở Điều 4, Hiến pháp 2013, thì nếu cụm từ “chính trị’ tạo ngại ngần của việc hình thành các thế lực chính trị hướng tới đa nguyên, cần sửa đổi Điều 9, Hiến pháp 2013.

Hiến pháp 2013, Điều 9 hiện hành: 1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

  1. Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị – xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
  2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội kháchoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động.

Đề xuất nội dung Điều 9.2 được điều chỉnh như sau: “2. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị – xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”.

Đề xuất bổ sung thêm Điều 9.4 với nội dung như sau: “4. Công đoàn Việt Nam, các tổ chức Hội – Đoàn dân sự được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện để Công đoàn Việt Nam, các tổ chức Hội – Đoàn dân sự hoạt động”.

Công đoàn độc lập sẽ chịu sự điều chỉnh của luật về Quyền lập hội và luật Công đoàn

Luật Công đoàn cũng sẽ được sửa đổi tương ứng với sự điều chỉnh thay đổi của Hiến pháp. Và với cách tiếp cận mới của tu chỉnh Hiến pháp, chắc chắn những nội dung của dự luật về Quyền lập hội cũng sẽ tăng tính thuyết phục để các đại biểu Quốc hội bấm nút thông qua, trong đó quyền thành lập công đoàn, nghiệp đoàn độc lập sẽ là một chương trong dự luật về Quyền lập hội.

Theo đó, căn cứ Công ước số 87 ILO, soạn thảo thêm chương về “quyền lập các tổ chức công đoàn độc lập trong các pháp nhân” nằm trong nội dung luật về Quyền lập hội. Giải pháp này sẽ giúp điều chỉnh nhanh một số điều ở luật Công đoàn để phù hợp với CPTPP.

Nội dung của chương đó, có thể gồm những nội dung như sau (được soạn thảo trên căn cứ của phiên bản dự thảo luật về Quyền lập hội đăng trên trang Thư viện Quốc hội, http://bit.ly/2LTaUoK):

Chương VIII: Công đoàn độc lập

Điều 31. Không bị phân biệt đối xử

Người lao động và người sử dụng lao động, không bị phân biệt về bất cứ yếu tố gì, đều có quyền thành lập, chỉ phải tuân theo các quy định tổ chức liên quan, và gia nhập các tổ chức mà họ tự lựa chọn mà không cần phải xin phép trước.

Điều 32. Quyền của tổ chức công đoàn độc lập

  1. Tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động có quyền thảo ra Hiến chương và điều lệ, hoàn toàn tự do lựa chọn đại diện, tổ chức hành chính và các hoạt động, cũng như lập chương trình.
  2. Các cơ quan công quyền không có bất cứ can thiệp nào mà có thể hạn chế quyền này hay ngăn cản việc thực thi quyền này theo pháp luật.
  3. Các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động không thể bị giải tán hay tạm ngưng hoạt động bởi cơ quan hành chính.
  4. Các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động có quyền thành lập và tham gia liên đoàn và liên minh, và bất cứ tổ chức, liên đoàn hay liên minh nào như vậy đều có quyền liên kết với các tổ chức quốc tế của người lao động và người sử dụng lao động trong khuôn khổ pháp luật.

Điều 33. Những quyền khác sẽ được điều chỉnh tương ứng với luật Công đoàn.

Điều 34. Khen thưởng, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo

  1. Hội, hội viên, người làm việc tại hội, tổ chức công đoàn độc lập có nhiều thành tích, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội thì được khen thưởng theo quy định của điều lệ hội và quy định của pháp luật.
  2. Việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong nội bộ do hội, tổ chức công đoàn độc lập giải quyết theo quy định của điều lệ hội, của tổ chức công đoàn độc lập và quy định của pháp luật. Ban quản trị hội, ban điều hành tổ chức công đoàn độc lập quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, khiếu nại trong nội bộ hội, tổ chức công đoàn phù hợp với điều lệ hội và quy định của pháp luật.
  3. Hội thông báo kết quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 16 Luật này.

Điều 35. Xử lý vi phạm

  1. Cơ quan, pháp nhân, cá nhân vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính, trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường, cá nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
  2. Chính phủ quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định của Luật này”.

Nguyễn Cao

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s