220px-Riazanov.jpg
David Riazanov

Cuộc đời, sự nghiệp, hành trạng David Riazanov- một học giả Xô Viết từng bị bách hại trong chế độ Xô Viết trong thời kỳ của Stalin.

Thông qua bài báo khoa học này thì đóng góp một nội dung mới mẻ về đề tài nghiên cứu xã hội, và về việc nhận thức nguyên nhân sâu xa về vấn đề ý thức hệ bắt nguồn từ việc tiếp nhận một trào lưu tư tưởng như chủ nghĩa Marx ở một quốc gia có một điều kiện đặc thù như nước Nga lúc bấy giờ và cách tiếp nhận đó chắc chắn, đã có ảnh hưởng đến Việt Nam, có thể nói chủ nghĩa Marx – Lenin hiện nay ở Việt Nam chính là một sản phẩm của Stalin.

Dịch giả Báo Giới gửi đến Nghiệp đoàn báo chí Việt Nam một bài dịch thuật hơn 31 trang, (có thể chia làm nhiều kỳ) có hơn 18000 chữ (có kèm bản gốc tiếng Anh). Đây là một bản tóm tắt hay, chất lượng dịch thuật cũng rất tốt. Bạn có thể tải về bản word sau đây để in ra và đọc trong những ngày cuối năm 2018, đầu năm 2019: https://goo.gl/wnNAFU

David Riazanov và chủ nghĩa Marx Nga *

Colum Leckey

Rất ít những nhà tư tưởng Bolshevik có được sự ca ngợi và kính trọng lớn lao như là nhà cách mạng và sử gia kỳ cựu David Riazanov ! Là người sáng lập và là giám đốc của Viện Marx-Engels, là tác giả của nhiều cuốn sách, bài báo và tập sách mỏng về lý luận và lịch sử của chủ nghĩa Marx và là biên tập viên của ấn phẩm kinh điển đầu tiên về các tác phẩm của Marx và Engels, Riazanov đã giữ một vị trí ưu việt trong số người người trí thức Marxist Nga trong những thập niên 1920. Là một con người phi chính thống thẳng thắn và đầy tính châm biếm với một câu chuyện lâu dài của việc gây chột dạ với mọi sự hào nhoáng của đảng Dân chủ Xã hội Nga, Riazanov là một mẫu người có tư duy chính trị độc lập điển hình. Dù sao đi nữa thì trong những năm 1920 thì hầu hết những người Bolshevik vẫn xem ông như một báu vật không thể thay thế. Trước năm 1917, công việc biên tập Di sản của Marx và Engels chủ yếu thuộc về Đảng Dân chủ Xã hội Đức cùng với Karl Kautsky, vốn là người mà gần như tất cả những người Marxist chính thống đều tôn kính như là người kế nhiệm trực tiếp của Marx và Engels trong vấn đề về lý luận và do đó là lựa chọn hiển nhiên để chủ trì đối với việc xuất bản di sản. Cùng với việc thiết lập nên quyền lực Xô Viết và sự rạn nứt của chủ nghĩa xã hội châu Âu thành các phái trung dung và phái cách mạng thì nhiệm vụ vừa rồi trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng về mặt tư tưởng của chế độ Bolshevik để chứng minh cho những người Marxist phương Tây thấy rằng chủ nghĩa Bolshevik là trung thành với những nguyên lý Marxist chính thống. Việc điều hành, xuất bản và giải thích Di sản do đó được nhận thấy như là một chiến thuật quan trọng trong việc chứng minh cho những khẳng định của người Bolshevik đối với bộ mặt của chủ nghĩa Marx chính thống. Nhiệm vụ này đến với Riazano, chuyên gia hàng đầu thế giới về văn bản của Marx – Engels để xuất bản toàn bộ di sản học thuật của Marx và Engels, do đó mà đã được mặc định là sẽ xác quyết rằng những nhà sáng lập của chủ nghĩa xã hội khoa học là những đối phương không khoan nhượng của chủ trương dân chủ tiến hóa xã hội và là những bậc tiền bối tinh thần của chủ nghĩa Bolshevik.

Trớ trêu thay là vào tháng 1 năm 1931, ngay sau khi Riazanov bắt đầu xuất bản các tác phẩm thì ông đã bị sa thải khỏi chức vụ của mình tại Viện và bị bắt vì tội giúp đỡ một nhóm người Menshevik trong âm mưu bị cáo buộc là lật đổ chế độ. Riazanov trở thành trí thức đầu tiên của Bolshevik bị rơi vào cái gọi là “cuộc cách mạng văn hóa”. Một số những đồng nghiệp và người hâm mộ của ông có thể đã thấy trước rằng điều này sẽ đến, nhưng dẫu vậy thì một loạt những lời chỉ trích cay độc lại đến từ họ ngay sau đó, dẫn đến việc xóa bỏ tên của ông ra khỏi lịch sử chủ nghĩa Marx Nga trong hai thế hệ tiếp theo. Dẫu cho sự phục vụ mà ông đã mang lại cho hệ tư tưởng Bolshevik và chủ nghĩa Marx cách mạng trong những năm qua nhưng không nghi ngờ gì với danh tiếng là học giả phi chính thống kỳ cựu và các mối liên hệ lâu dài với phái Menshevik đã đóng một vai trò then chốt trong việc quyết định đến số phận của ông. Có lẽ việc loại bỏ một cách bất ngờ ông như thế đã làm cho giới trí thức của các khuynh hướng chính trị thấy rõ rằng ngay cả những nhà tư tưởng Bolshevik nổi tiếng nhất cũng không được miễn trừ khỏi sự công kích văn hóa, và có lẽ còn cho thấy mối quan ngại hơn, rằng đảng sẽ sớm chi phối mọi khía cạnh của đời sống văn hoá.

Riazanov đã thu hút rất ít sự chú ý từ các học giả ở Nga hoặc phương Tây, một thực tế có vẻ đáng ngạc nhiên khi xem xét sự nổi bật của ông trong giới trí thức Bolshevik. Thông qua các học giả phương Tây và quan điểm được những người cùng thời Riazanov chấp nhận rộng rãi là chỉ ở giá trị bề nổi mà không có sự giải thích chính xác những gì mà ông đã đạt được để xứng đáng được khen ngợi như vậy. Các tư liệu thường hay quan tâm đến trí tuệ đỉnh cao của ông [1], một lời cáo buộc lăng mạ đối với Stalin thường được trích dẫn[2], sự chống đối không ngừng đối với các cơ quan đảng[3], và đặc biệt là những cái lập dị không thể kiểm soát được của ông. Thậm chí các chuyên gia về lịch sử Xô Viết về thời kỳ này đã bỏ qua Riazanov trong mối liên hệ với bối cảnh đương thời, chưa lưu tâm đến công trình học thuật của ông mà thay vào đó là nhấn mạnh đến sự đối kháng của ông đối với làn sóng của tính đảng (partiinost’) đang dâng lên sau năm 1928[4]. Ấn tượng chung, và cũng không hoàn toàn là không chính xác, rằng ông là nhà điều hành hàn lâm đã bị cô lập, bao vây và dồn ép trong chính Viện của mình và bị giam hãm trong một trận đấu vô vọng với các thế lực của chủ nghĩa Stalin.

Nhưng Riazanov không chỉ đơn thuần là người thua cuộc trong một cuộc cãi vã cá nhân với những đối thủ chuyên nghiệp của ông, cũng không phải như Trotskii và Victor Serge đã từng, như là một con đom đóm gây phiền nhiễu khiến cho Stalin phải phủi đập[5]. Bài viết này nhằm mục đích thấu hiểu vượt lên trên những đặc điểm này để làm rõ vị trí đặc biệt của Riazanov trong lịch sử chủ nghĩa Marx Nga và nhằm đưa ra những lý do cho sự sụp đổ đột ngột của ông. Nó lập luận rằng nguồn gốc uy tín của ông là dựa trên khả năng phát biểu mạch lạc về bản chất của cộng sản và giai cấp vô sản mà người Bolsheviks đã giả định là nằm ở trung tâm lời dạy của Marx. Đúng, Riazanov đã tiếp tục sự “hệ thống hóa” về chủ nghĩa Marx chính thống mà đã được bắt đầu bởi đảng Dân chủ Xã hội Đức trước năm 1914, một nhiệm vụ đòi hỏi nhiều điểm chung về một sự cứng rắn về mặt tinh thần và ý thức hệ nhất định đối với thế hệ đầu tiên của những người Marxist Nga hơn là đối với đảng Cộng sản Nga của những năm 1920. Vị trí của ông như là người chấp hành về mặt văn bản trong tác phẩm của Marx-Engels thật vậy đã tách ông khỏi dòng chính Bolshevik sau cuộc Cách mạng và khiến ông trở thành một “cán bộ lão làng” của chủ nghĩa Marx Nga. Nhưng Riazanov lại không phù hợp với khuôn khổ này, vì thực tế là ông thuộc về một sự mâu thuẫn nhất định đối với các mục tiêu lý luận, kết hợp chúng với sự độc quyền về trí tuệ của giới trí thức phi Marxist của Nga. Đối với ông, cũng như đối với tất cả các nhà trí thức Bolshevik, lý luận Marxist là không thể tách rời khỏi thực tiễn cách mạng vô sản. Vì lý do này mà sự giải thích của ông về các bản thảo trước đây chưa được biết đến hoặc bị lãng quên, bao gồm cả bản thảo của Marx thời trẻ, đã làm giảm thiểu tầm quan trọng của Marx với tư cách là nhà triết học và nhấn mạnh đến sự khám phá của Marx về lập trường “vô sản” và hậu quả là phủ nhận đi đặc điểm thành tựu về triết học của các thế giới quan và ý thức hệ “tư sản”. Những niềm tin này là phổ biến đối với thế hệ người Marxist Nga của ông, vốn được nuôi dưỡng và giáo dục khi họ tham gia vào cuộc đấu tranh chính trị của giai cấp công nhân Nga chống lại chủ nghĩa chuyên chế. Nếu Riazanov đã lơ là các chủ đề về sự tha hoá và chủ nghĩa nhân bản được thể hiện một cách rõ rệt trong các bản thảo, thì đó không phải là do bất kỳ tác động quá lớn nào bởi quyết định luận khoa học của Engels và Plekhanov, mà hơn nữa là do sự tiếp thu một cách uyên thâm của ông về ‘quan điểm vô sản’ và sự chắc chắn của ông về thắng lợi cuối cùng của giai cấp vô sản.

Những điểm nổi bật về tiểu sử chính trị của Riazanov như sau. David Borisovich Goldendach sinh ra vào năm 1870 do một người cha là người Do Thái và người mẹ Nga, ông đã tham gia một trong những nhóm còn sót lại của tổ chức khủng bố Narodnaiavolia ở tuổi mười lăm trong khi vẫn còn là một học sinh trung học ở Odessa. Không lâu sau, ông bắt đầu nghiên cứu về các nhà kinh điển xã hội chủ nghĩa. Bị đuổi khỏi trường trung học sau đó vào năm 1886, không phải do âm mưu lật đổ hoặc cá tính ngỗ nghịch như có thể được mong đợi, mà là, khi các nhà chức trách tiết lộ, là do cậu học sinh “không còn hy vọng gì về năng lực”[6]. Đầu thời kỳ này, ông đọc phần đầu tiên bộ Tư bản của Marx, nhưng theo hồi ức của chính ông, bốn mươi ba năm sau, ông “không hiểu gì về chủ nghĩa Marx và không có hiểu biết về điều mà chúng ta gọi là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản”[7].Mãi cho đến khi lần đầu tiên đến Tây Âu vào năm 1889, ông mới trở thành một người Marxist chính thức. Ở đó, ông đã nghiên cứu các tác phẩm của Marx và Engels bằng ngôn ngữ gốc, đã liên lạc với các tổ chức công nhân Pháp, tham dự Đại hội khai mạc Quốc tế II tại Paris, và lần đầu tiên gặp mặt George Plekhanov, “cha đẻ của chủ nghĩa Marx Nga”[8]. Cũng như bản thân Plekhanov, Goldendach rõ ràng đã từ bỏ chủ nghĩa dân túy vì chủ nghĩa Marx chỉ sau một thời gian dài chuyển tiếp học tập, đấu tranh tư tưởng và hoạt động thực tiễn với công nhân.

Bị tình nghi từ lâu bởi cảnh sát vùng Odessa vì hoạt động lật đổ, Goldendach bị bắt vào tháng 10 năm 1891 trên biên giới Áo-Nga khi trở về nhà sau chuyến đi thứ hai ở nước ngoài. Sau mười sáu tháng giam giữ tại Odessa, ông bị thuyên chuyển đi vào tháng 2 năm 1893 để đến pháo đài Kresti ở St. Petersburg trong bốn năm mà hầu hết trong thời gian ở đó ông đã bị biệt giam. Goldendach bị lưu đày tới Kishinev trong ba năm để kết thúc bản án của mình. Chỉ vào năm 1900 ông mới có cơ hội trở lại Tây Âu và bắt đầu trở lại hoạt động cách mạng của mình.[9]

Năm sau, ông và một số người lưu vong trẻ khác đã thành lập nhóm văn học Berlin của riêng mình, tên là nhóm Bor’ba (Đấu tranh). Sử dụng cái tên Riazanov lần đầu tiên, ông bắt đầu đóng góp cho nhóm Iskra và Zaria[10]. Tuy nhiên sự hợp tác của ông với nhóm Iskra chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi. Điều kỳ lạ là nhóm Bor’ba có nhiều điểm chung với nhóm Iskra hơn là những bất đồng, một thực tế đã khiến nhiều đảng viên Dân chủ Xã hội Nga đặt câu hỏi về động cơ của Riazanov và cộng sự khi họ rạn vỡ với nhóm Iskra ngay từ ban đầu[11]. Nhóm Bor’ba nhấn mạnh vào một tổ chức đảng gắn bó chặt chẽ dựa trên các nguyên lỳ của chủ nghĩa Marx cách mạng, sự tất yếu của một cuộc cách mạng hai giai đoạn, vai trò quyết định của vô sản trong việc lật đổ chủ nghĩa chuyên chế Nga, và sự cần thiết cho cuộc đấu tranh chính trị không ngừng để nâng cao trình độ ý thức giai cấp vô sản. Mặc dù nhóm không có ý định phá vỡ phong trào Dân chủ Xã hội Nga thêm nữa, nhưng họ vẫn cảm thấy bắt buộc phải thành lập một tổ chức mới chỉ vì sự từ chối của nhóm Iskra không cho phép bất kỳ cuộc tranh luận thực sự nào về chương trình của đảng trên những dự thảo của họ (nhóm Iskra- N.D). Vào năm 1903, nhằm tạo ra các cuộc thảo luận mà nhóm Iskra đã cố ngăn cản thì Riazanov đã công bố một bài dài hơi phê phán từng chút một về chương trình của nhóm Iskra, điều này hoàn toàn không làm nên tác động nào ngoại trừ việc kích động một sự đáp trả không khoan nhượng từ Plekhanov và nhằm chắc chắn sự loại trừ nhóm Bor’ba khỏi Đại hội đảng lần thứ hai[12]. Mặc dù một vài đại biểu đã bảo vệ đơn thỉnh nguyện của Riazanov đến phút cuối để ông được thừa nhận vào Đại hội nhưng các đại biểu đã bỏ phiếu chống lại sự tham dự của ông và đã chỉ thị cho nhóm phải giải tán và yêu cầu các thành viên tham gia một trong các tổ chức của đảng.[13]

Sau năm 1903, Riazanov, cũng như Trotskii, đã từ chối việc đồng nhất mình với một trong hai phái Bolshevik hoặc Menshevik, và từ đó dành thời gian và năng lực trí tuệ của mình cho một sự điều hoà các mâu thuẫn của đảng Dân chủ Xã hội. Tập trung vào việc tái hoà giải các rạn nứt trong đảng vào những năm sau đại hội đảng lần thứ hai, ông đã dành tâm huyết đáng kể cho sự vụ công đoàn và tham gia vào cánh Dân chủ Xã hội ở Duma trong cuộc cách mạng 1905-07. Quay trở lại lưu vong từ năm 1907 đến năm 1914, Riazanov đã lần đầu tiên dấn thân cho việc nghiên cứu lịch sử, làm việc cho đảng Dân chủ Xã hội Đức trong các văn khố và thư viện trên khắp châu Âu về các chủ đề khác nhau liên quan đến lịch sử chủ nghĩa Marx[14]. Người Đức đã đủ ấn tượng với công việc của ông để ủy thác cho ông việc thu thập và xuất bản các tác phẩm của Marx trong những năm 1852 – 62 và hai tập sách đã ra mắt trước năm 1914[15]. Cực chẳng đã phải tham gia vào đấu trường chính trị một lần nữa vì Đệ nhất Thế chiến, Riazanov đã đứng về phía lập trường quốc tế chủ nghĩa, đóng góp thường xuyên cho nhóm Nashe slovo của Trotskii và tham gia tích cực vào phong trào Zimmerwald như một đại diện của đảng nước Nga[16]. Khi cuộc cách mạng năm 1917 nổ ra, Riazanov đã trở về Nga. Là một thành viên của Mezhduraiontsy, ông đã gia nhập phái Bolshevik vào tháng 8 năm đó.

Riazanov tiếp tục công việc chính trị và sự vụ công đoàn của mình sau Cách mạng tháng Mười, nhưng ông sẽ để lại dấu ấn của mình trong chế độ Xô Viết còn non trẻ với tư cách là một học giả và là nhà điều hành hàn lâm. Mặc dù ông đã đóng một vai trò rõ rệt và khôi hài tại các cuộc họp của đảng từ năm 1917 đến năm 1922, nhưng một số người đã nhìn nhận ông một cách nghiêm túc như là một chính trị gia. Về phương diện này, sự nghiệp của ông chưa bao giờ phục hồi hoàn toàn từ sự thất bại của nhóm Bor’ba. Thật vậy, ông càng có tiếng nói bất đồng thuận với chế độ thì ông dường như càng bị cho ra rìa hơn đối với trận tuyến chính trị. Tuy nhiên, bất chấp sự chống đối dai dẳng của ông với các cơ quan đảng, Riazanov không bao giờ rời đảng một cách tự nguyện, ngay cả sau khi Ủy ban Trung ương ngăn cấm ông khỏi công việc công đoàn vào năm 1921. Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Riazanov làm việc tại Viện Marx-Engels nhằm chuẩn bị và phân tích Di sản và dường như không hề bị ảnh hưởng bởi thời kỳ biến động xã hội và chính trị cho đến khi ông bị sa thải khỏi vị trí của mình vào tháng 1 năm 1931. Bị tước đảng tịch, ông đã tốn thời gian để ra vào nhà tù trước khi qua đời trong trại lao động ở Siberia vào năm 1938.

******

Trong suốt sự nghiệp cách mạng và học thuật của mình, Riazanov đã thể hiện tâm thế nệ cổ đối với các tác phẩm của Marx và Engels khiến ông nhận được cả danh tiếng lẫn sự mỉa mai như một học giả tiên phong tài năng của chủ nghĩa Marx Nga. Iuri Steklov, bạn của ông từ Odessa, cùng là thành viên của nhóm Bor’ba, và là biên tập viên tương lai của Izvestiia***, về sau đã viết rằng ngay cả khi còn là một thanh niên thì Riazanov đã “thích tìm kiếm trong các tác phẩm những cái sai lệch của những đại diện được chú ý nhất của tư tưởng Marxist so với phương pháp và thế giới quan Marxist chuẩn mực nhằm vạch ra những cái sai lệch này”[17]. Kiến thức uyên thâm về các văn bản nền tảng này đã làm giảm đi ảnh hưởng chính trị của ông với tư cách là một người tham dự trong các cuộc họp của đảng Dân chủ Xã hội ở nước ngoài vì nó dường như phục vụ ông như một chiếc nạng trí thức hơn là nền tảng cho việc phát triển một chương trình chính trị về mặt lý thuyết. Phản ứng của Plekhanov đối với phê phán của ông (Riazanov –N.D) về chương trình Iskra là một trường hợp điển hình. Bậc lão làng Marxist đã không chịu được những khiếm khuyết rõ rệt của Riazanov, cụ thể là, sự phụ thuộc của ông vào câu chữ của Marx, và như một hệ quả, sự bất lực của ông để đánh giá cao sự linh hoạt của lý luận Marxist. “Để trở nên là ‘chính thống’,” Plekhanov tiếp tục, “Học thuộc lại câu từ và biểu hiện ra một cách độc đoán chính là sự khiếm khuyết: chính khả năng tư duy một cách biện chứng mới là điều cần thiết, mà ở Riazanov thì lại không hề có biểu hiện nào.” [18]

Lòng nhiệt thành của Riazanov vì sự gắn bó đối với thông điệp của chủ nghĩa Marx đã trở thành một điều quý giá giữa những năm 1907 và 1914 khi ông tìm thấy sự thúc giục nơi bản thân mình như một sử gia. Các nghiên cứu và tác phẩm của ông trong những năm tháng này đã làm nên danh tiếng của ông như là sử gia Marxist uyên bác nhất châu Âu. Do mối quan tâm và chuyên môn đa dạng của Riazanov, chưa kể đến thói quen làm việc cầu toàn của ông, đã ngăn cản ông nắm bắt lấy một lịch sử toàn diện của vấn đề nếu thực sự ông có một mong muốn như vậy. Không như các nhà trí thức hàng đầu trong phong trào, ông dường như phù hợp hơn với các nghiên cứu chuyên ngành về lý thuyết hoặc là về tranh luận. Cho đến khi kết thúc sự nghiệp của mình thì ông thực tế vẫn còn là một nhà sử học theo lề lối cũ, nhấn mạnh vào việc phân biệt giữa sự nghiên cứu Marxist nghiêm túc với những gì ông mà ông gọi là những người Marxist “ký giả”[19]. Ông đã tìm cách giới thiệu cho phương pháp luận lịch sử Marxist các vận dụng đã được kiểm chứng bởi thời gian của các sử gia chuyên nghiệp, ông cho rằng sự kết hợp giữa tính chuyên nghiệp hàn lâm và chủ nghĩa Marx sẽ phục vụ cho sự nâng cao “tính khoa học” của thành quả. Đối với mục tiêu này, ông dần dần đã tạo nên về mặt phong cách một nguyên tắc lịch sử mới dành riêng cho việc nghiên cứu một cách có hệ thống về cuộc đời và tác phẩm của Marx, mà ông gọi tên là Marksovedenie (Marx học).

Riazanov đã xây dựng nên các quy tắc cơ bản của Marksovedenie trong một số tác phẩm về lịch sử được xuất bản từ năm 1908 đến năm 1914 trên báo chí của đảng Dân chủ Xã hội Đức và Nga[20]. Nguyên tắc vận dụng quan điểm duy vật về lịch sử cho việc nghiên cứu về Marx và Engels, tìm hiểu những người sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học như những cá nhân có mối liên hệ biện chứng với với các lực lượng lịch sử khách quan. So với Maksim Pokrovskii, một nhà sử học Marxist Nga vĩ đại khác của thời kỳ này, Riazanov không bao giờ kết hợp chủ nghĩa duy vật lịch sử với quyết định luận kinh tế; ông thực tế là có xu hướng hoàn toàn đối lập lại bằng việc gần như tập trung độc quyền vào những ý tưởng của Marx và Engels. Là một nhà duy sử nghiêm ngặt trong thế giới quan của mình, Riazanov đã viết về lịch sử mà có sự định hướng của tác nhân (agent – driven history), ông đánh giá rằng, “không ở nơi đâu có sức mạnh sáng tạo về các ý tưởng và có vai trò quyết định của những nhân tố lịch sử (lichnost ) được xuất hiện đầy đủ như trong cuộc đời của cả hai người sáng lập quan niệm duy vật về lịch sử…..Không ai có ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong trào quần chúng lớn nhất trong lịch sử thế giới, phong trào công nhân quốc tế, hơn Marx và Engels”. Vì thế nhiệm vụ của Marksovedenie, là nhằm lần theo sự trỗi dậy của chủ nghĩa Marx trong tất cả các giai đoạn của nó và để trình bày sự hội tụ của các lực lượng nhân tố và phi nhân tố đã tạo nên một phong trào có ý nghĩa “lịch sử thế giới”.[21]

Ý nghĩa then chốt đối với Marksovedenie là một niềm tin vào sức mạnh tái sinh của tư liệu. Để tái tạo lại Marx và chủ nghĩa Marx “như họ thực sự là”. Marksovedenie của Riazanov đã khai thác mọi nguồn tài liệu có thể có – vì thế là trung tâm của toàn bộ văn liệu cho Viện Marx – Engels, nhờ vào việc thu nhận Di sản của Riazanov từ các văn khố của Đức và phương Tây, trở thành trung tâm nghiên cứu Marxist của thế giới trong thập niên 1920. Hình thức và nội dung của tạp chí chủ đạo của Viện, Arkhiv K. Marksa i F. Engel’sa, đã trình bày rõ về điều này[22]. Mỗi một tập đều nêu bật các tư liệu có từ di sản Marx-Engels cùng với các phân tích chính xác của Riazanov, trong khi tất cả các bài báo và các đánh giá đều tuân theo các quy tắc quan trọng của Marksovedenie : một sự tôn kính của những người theo Riazanov đối với tư liệu và quan điểm duy vật về lịch sử. Sự tổ chức của Viện cũng phản ánh chức năng khảo chứng về Di sản trong sứ mệnh của nó. Riazanov phân nó thành mười hai văn phòng, tất cả đều nghiên cứu cùng một câu hỏi mà Marx và Engels đã bỏ dở trong các bài báo của họ và dự định cho phép nhà nghiên cứu, như Riazanov nói, là nhằm tái tạo lại “điều kiện lịch sử, môi trường lịch sử, mà Marx và Engels đã sinh trưởng và từ đó chúng đã làm nên những ấn tượng, động lực và chất kích thích của họ, cả với tư cách là những nhà chuyên môn và chính trị gia”[23]. Do đó, thí dụ như, sự kết tập của văn phòng triết học chứa đựng mọi văn bản triết học được nghiên cứu hoặc thậm chí là được trích dẫn bởi Marx và Engels trong Di sản, văn phòng luật của Viện đã làm điều tương tự đối với việc Marx thâm nhập vào lĩnh vực luật học và chủ nghĩa Hegel như một sinh viên đại học vào những năm 1830 và những năm 1840, trong khi đó văn phòng kinh tế chính trị làm việc độc quyền về lịch sử của chủ nghĩa tư bản khi nó có mặt trong bộ Tư bản. Theo một cung cách làm gợi nhớ đến Dilthey**, Riazanov đã làm cho Marx và Engels, thông qua các tác phẩm của họ, thiết lập nên kiểu cách, sắc thái, và sự tổ chức cho các hoạt động của Viện.

Ngoài những thành tựu về mặt điều hành, sự đóng góp chủ đạo của Riazanov đối với chủ nghĩa Marx là nằm trong công việc của ông đối với di sản văn khố Marx-Engels. Tạp chí Arkhiv K. Marksa i F. Engel’sa, có năm tập xuất hiện không thường kỳ giữa năm 1924 và 1930, đã hé lộ các bản thảo trước đó chưa được biết hoặc bị lãng quên mà sau này càng làm trầm trọng và ấn định sự ly khai giữa chủ nghĩa Marx phương Tây và chủ nghĩa Marx Xô Viết. Chúng bao gồm các phần từ Hệ tư tưởng Đức[24], các phần trong Bản thảo kinh tế triết học năm 1844[25], Phê phán Triết học Pháp quyền của Hegel năm 1843[26], và Biện chứng của Tự nhiên của Engels[27]. Nhìn lại, Arkhiv rõ ràng đại diện cho cuộc gặp gỡ sớm nhất giữa chủ nghĩa Marx Xô Viết và các tư liệu nền tảng cho chủ nghĩa nhân bản Marxist hoàn toàn chỉ nổi lên sau Thế chiến II. Tuy nhiên, thật vô ích khi tìm kiếm trong công trình của Riazanov cho những dấu vết của cuộc tranh luận này, vào thời điểm ông phát hiện ra “Marx trẻ”, quan điểm của ông từ lâu đã được củng cố thành một Weltanschaung (Thế giới quan – N.D) chính thống cứng rắn hầu như không thể sửa đổi hoặc xét lại. Tất nhiên, cuộc cách mạng và sự thiết lập chế độ chuyên chính vô sản đã đòi hỏi ông phải sửa đổi và cập nhật về những lập trường của mình, nhưng các quan điểm của ông về cơ bản là đào sâu về tính thực tiễn, nếu không muốn nói là của “giai cấp vô sản” mà vẫn còn hãy nóng bỏng như trước năm 1917.

Phản ứng của Riazanov đối với các bản thảo trở nên sáng tỏ hơn nếu chúng ta xem xét sơ lược về sự phát triển trí thức trước cuộc cách mạng của ông và tác động của Cách mạng tháng Mười lên tư tưởng của ông. Ông bày tỏ quan điểm ban đầu của mình trong một bài phê phán có tính lịch sử về chủ nghĩa dân túy Nga mang tên Hai Chân lý : Chủ nghĩa Dân tuý và Chủ nghĩa Marx (Two Truths: Populism and Marxism), được xuất bản bởi nhóm Bor’ba vào năm 1901[28]. Đây là tác phẩm lý luận đầu tiên và duy nhất của ông, bài luận ngắn này cho thấy một sự uyên bác nhất định cũng như sự nhạy cảm đối với các sắc thái trong lý luận Marxist, nhưng lại không có đột phá đáng kể nào vượt ra bên ngoài cái ranh giới mực thước của chủ nghĩa Marx chính thống được thiết lập bởi Plekhanov. Trong đó, ông đã xem xét ý thức hệ tư tưởng của nhà lý luận dân túy Nikolai Mikhailovskii, nỗ lực cho thấy sự phá sản mang tính nhận thức luận, đạo đức và chính trị của chủ nghĩa dân tuý so với chủ nghĩa Marx. Như Riazanov đã nhấn mạnh, nguồn gốc chính của những khiếm khuyết nơi Mikhailovskii, là nằm trong cách tiếp cận duy chủ quan và phi lịch sử của ông đối với nhiệm vụ thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Mặc dù Mikhailovskii đã nhận thức một cách đúng đắn những mối nguy tiềm tàng trong việc quy hoạt động cách mạng về một sự định hướng độc quyền nào đó về mặt lý luận hay thực tiễn, nhưng khái niệm thực tiễn của ông thì chỉ là đòi hỏi sự kết hợp giữa “lý trí” của giới tinh hoa với “trái tim” nơi nhân dân[29]. Trong sự hoà điệu này, Mikhailovskii kết luận, một lực lượng cách mạng mạnh mẽ sẽ trỗi dậy hành động “cho nhân dân và thông qua nhân dân”. Riazanov đã chỉ trích Mikhailovskii vì sự ngây thơ nguy hiểm: “Tất cả mọi người và thông qua mọi người! Nhưng phải làm gì nếu ‘quan điểm’ của những người này không tương ứng với ‘quan điểm’ của tôi về ‘lợi ích” của họ ?” “Và có bao nhiêu tình huống như vậy ? Vậy có nên bắt đầu lại cái nhiệm vụ dã tràng xe cát này không ? Để tiếp tục hành động cho những người này mà không nhận được sự đáp lại hay cảm tình của họ?”[30]. Chỉ trong một từ thôi, sự chống đối của nông dân đối với việc tuyên truyền và kích động chủ nghĩa dân tuý đã chứng minh thêm rằng những tiền đề của ý thức hệ dân tuý đã dựa trên sự phân biệt một cách tiên nghiệm giữa tư tưởng và hiện thực mà chỉ có thể duy trì sự tách rời lý luận khỏi thực tiễn, dẫn đến sự thờ ơ hoàn toàn đối với các vấn đề xã hội hoặc là nhiệt tình một cách mù quáng.

Đối với Riazanov, Marx thời trẻ đã giải quyết mâu thuẫn này bằng cách xác định tư tưởng xã hội chủ nghĩa với các điều kiện vật chất hiện tồn của giai cấp vô sản. Các nhu cầu không ngừng nghỉ của cuộc đấu tranh giai cấp đã không cho phép giai cấp vô sản tách rời khỏi lý luận và thực tiễn, và do đó làm cho thế lưỡng nan về mặt đạo đức của Mikhailovskii và những người dân túy trở nên không còn giá trị cho việc hướng đến chủ nghĩa xã hội. “Cái tất yếu tuyệt đối,” Riazanov viết, “phục vụ như là mệnh lệnh tuyệt đối của [giai cấp vô sản],” thúc đẩy nó trong cuộc đấu tranh cho sự giải phóng, và càng thúc đẩy nó mạnh mẽ hơn vì nó không phải là cái tất yếu được quy tụ bởi điều kiện tự nhiên. Mà trái lại, cái tất yếu này đã được quy tụ lại một cách nhân tạo và gắn liền với điều kiện xã hội hiện tồn. Tư tưởng về sự phủ định cái tư hữu, tức chủ nghĩa xã hội, tìm thấy sự hỗ trợ vững chắc trong các lợi ích của giai cấp vô sản và có giai cấp nào mà lại càng gần gũi với tư tưởng đó nếu bản thân giai cấp đó, với những nguyên lý cho sự tồn tại của nó, lại không phải là sự phủ định cái tư hữu ? Theo lề lối này thì ‘tư tưởng’ cần có được cảm tình của quần chúng, ‘quan điểm’ của nó là đứng về phía họ, và được đón nhận bởi quần chúng, khi đó chính bản thân tư tưởng trở thành một lực lượng vật chất”[31]. Riazanov do đó đã nhận thức được bản chất biện chứng của thực tiễn cách mạng Marxist như là một quá trình mà trong đó ý thức giai cấp vô sản mong muôn cải tạo các điều kiện tồn tại của nó và do vậy cũng là cải tạo chính bản thân nó. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng đó chính là cái tất yếu lịch sử cho sự trỗi dậy của ý thức giai cấp vô sản hơn là nhu cầu chủ quan của trí thức cấp tiến. Các cơ sở vật chất của xã hội do đó đã quy định lấy hình thức chính trị và hệ tư tưởng của kiến trúc thượng tầng. Vì thắng lợi tất yếu của giai cấp vô sản, các hoạt động có ý nghĩa duy nhất còn lại cho giới trí thức chính là tổ chức lao động, xây dựng một đảng của quần chúng, và giáo dục công nhân theo các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Marx[32]. Chỉ theo những đường lối này, Riazanov lập luận, thì lý luận mới có thể hoàn toàn hợp nhất với thực tiễn.

Quan điểm của Riazanov về thực tiễn đã xác định sự phụ thuộc của hoạt động lý luận đối với hoạt động thực tiễn cách mạng, và do đó nó chính là lý do mà các tác phẩm sau này của ông ít khi chú tâm về lý thuyết Marxist. Thay vào đó, ông ngầm thể hiện quan điểm lý luận của mình trong tác phẩm về lịch sử. Sự trình bày công khai và chi tiết nhất về lập trường lý luận của ông sau Hai Chân lý trước khi khánh thành Viện Marx-Engels vào năm 1914 trong phân tích của ông về thư tín của Marx-Engels, được xuất bản vào năm 1913 và được biên tập bởi Eduard Bernstein và August Bebel[33]. Thông qua tập hợp có bốn phần này mà Riazanov đã chủ tâm lựa chọn vào khoảng thời gian những năm 1840 đã cho thấy bước ngoặt về tình bạn và sự hợp tác suốt đời của Marx và Engels, một lần nữa nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội khoa học và những đối thủ “duy tâm” hoặc “không tưởng”. Trong suốt quá trình nghiên cứu, ông đã liên tục so sánh một cách rõ ràng giữa giới cấp tiến của Đức vào thập niên 1840 với những người trí thức cách mạng của Nga, tìm ra các đại diện nguyên bản của chủ nghĩa xã hội “khoa học” và” không tưởng “, ảnh hưởng đến Marx và Engels thời trẻ. Riazanov đặc biệt thích thú khi trình bày về một ông Marx trẻ tuổi và đầy kiên quyết, đã cảm hoá một Engels quá nhiệt tình, người mà sau này, “như một narodnik thuần thành”**** tiếp tục thuyết giảng về nhiệm vụ của giới trí thức cho nhân dân ngay cả sau khi ông bắt đầu hợp tác với Marx[34]. Ông đã bày tỏ sự phân biệt cơ bản này đối với những lập trường khác nhau của họ về sự trỗi dậy của vô sản. Giống như các nhà dân tuý Nga nói chung và Mikhailovskii nói riêng, Engels thời trẻ đến cuối năm 1845 vẫn trông cậy vào niềm tin rằng chủ nghĩa xã hội có thể chiến thắng bởi ý chí tuyệt đối của giới trí thức, trong khi Marx vào năm 1844 đã xác định thành quả của nó độc quyền với sự xoá bỏ tư hữu của giai cấp vô sản[35]. Những kết luận của Riazanov đã bao hàm một vài nét về một vài sự tiến trển về mặt tri thức đáng chú ý kể từ Two Truths. Chúng tái khẳng định sự đối kháng không thể hòa giải giữa chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa xã hội không tưởng, bằng với khuôn khổ của chủ nghĩa duy vật và “quan điểm vô sản” trong khi đó kiên quyết đến cùng với chủ nghĩa duy tâm ngoan cố của giai cấp tư sản[36]. Hơn nữa, chúng còn cho thấy sự tin tưởng của Riazanov ở thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội vô sản.

Tóm lại, vào đêm trước năm 1917, Riazanov đã nhận thức rằng chủ nghĩa Marx về bản chất là lý luận và thực tiễn của cuộc cách mạng vô sản. Trong việc xác định hệ tư tưởng với việc ngả theo sự thắng lợi tất yếu lịch sử của giai cấp vô sản, ông đã bất tín nhiệm với các tiền đề mang tính quyết định luận vốn phổ biến đối với hầu hết các nhà xã hội chủ nghĩa thế kỷ 19. Ông hẳn nhiên đã có rất ít điều để nói về mặt lý thuyết thuần túy đối với chủ nghĩa xã hội khoa học, nhưng cũng không phải là ông đặc biệt quan tâm đến hàn lâm chỉ vì mục tiêu đó. Đối với ông, việc đặt thực hành cách mạng vào hàng thứ yếu đối với việc theo đuổi lý thuyết hoặc kiến thức là một bước lùi thật sự so với truyền thống lạc hậu của giới trí thức dân túy và do đó cũng đồng nghĩa với việc bỏ rơi lợi ích của tầng lớp lao động.

Có thể, hoạt động cách mạng thuần túy cũng có giá trị của nó. Riazanov đã biết một vài người công nhân và thậm chí cả những người Bolshevik đã từng bận tâm nghiên cứu về chủ nghĩa Marx một cách có hệ thống, và vì lý do rất chính đáng : họ đã quá bận rộn vào việc thực hành cách mạng để tạm dừng lý luận về nó trong một thời gian rất dài. Ở đây đã lộ ra hậu quả nghịch lý của cuộc Cách mạng tháng Mười. Sau khi đưa ra một loạt các bài giảng tại Viện Xã hội chủ nghĩa vào đầu những năm 1920, ông đã trực nhận được một cách sâu xa rằng chuyên chính vô sản ở Nga đã mang lại quyền lực cho một giai cấp lao động và một đảng Marxist bị mất đi những nền tảng cơ bản nhất về đào tạo lý luận và kiến thức về lịch sử [37]. Sự bắt đầu của Chính sách Kinh tế mới (NEP) tiếp tục làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn vốn có trong chế độ chuyên chính vô sản của nước Nga Xô Viết. Mặc dù tất cả những người Bolshevik đều xem NEP là một bước lùi so với các chính sách cứng rắn mang tính vô sản của Cộng sản Thời chiến, nhưng họ vẫn xem đó là “không gian để thở” cần thiết cho nhà nước Xô Viết. Bản thân Riazanov vào năm 1921 đã gọi nó một cách mỉa mai là “nông dân Brest-Litovsk”, ông chỉ ra sự khác biệt ngày càng lớn giữa kết quả thực tế của cuộc cách mạng và hệ tư tưởng Marxist chính thức của nhà nước[38]. Tuy nhiên, Riazanov từ chối thừa nhận rằng NEP báo hiệu một sự thất bại cho lý luận chủ nghĩa Marx chính thống. Ngược lại, trong một bài phát biểu năm 1924, ông nhấn mạnh rằng NEP đã dành cho chế độ chuyên chính vô sản một cơ hội để “tận dụng tất cả nguồn lực xã hội của tất cả các giai cấp mà vẫn chưa thừa nhận giai cấp vô sản, vẫn chưa trở nên vô sản hoá, [ và ] vẫn chưa được thấm nhuần quan điểm cách mạng của giai cấp vô sản”[39]. Trong thực tế, điều này dẫn đến cả sự tiếp nối và sự đảo ngược về lập trường trước cách mạng của ông về chức năng tư tưởng. Một mặt, Riazanov vẫn suy tư một cách dần dần, mặc dù là không thể đảo ngược, về quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trên tất cả các tầng lớp khác. Cũng giống như họ đã giành được thắng lợi trên các mặt trận của giới trí thức cách mạng trước năm 1917, và do đó, họ sẽ tiếp tục theo đuổi NEP nhằm “vô sản hoá” giai cấp tư sản, nông dân, phần còn lại của giới trí thức, và có lẽ là cả thế giới. Mặt khác, trong khi dưới chế độ Sa hoàng thì quá trình này xảy ra chủ yếu trong kiến trúc thượng tầng, thì sau năm 1917, Riazanov khẳng định rằng việc thiết lập chế độ chuyên chính vô sản và phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa đã mang lại cho kiến trúc thượng tầng những yếu tố, đặc biệt là về nhà nước và hệ tư tưởng, những sức mạnh chưa từng có cho sự gia tăng quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với xã hội.

Sức manh được làm mới lại của kiến trúc thượng tầng dưới chế độ chuyên chính vô sản có những hàm ý thực tiễn đối với trí thức Marxist của Liên Xô. Trong hoàn cảnh của sự khan hiếm về những người Bolshevik và những người công nhân thông thạo chủ nghĩa Marx thì bắt buộc các nhà trí thức Marxist phải xây dựng một phương pháp chính thống nghiêm ngặt để ngăn ngừa giới công nhân và đảng viên khỏi việc bị chệch hướng khỏi con đường của chủ nghĩa Marx. Mặc dù hầu như tất cả những người đi theo chủ nghĩa Marx Xô Viết đều đồng ý rằng chế độ chuyên chính vô sản đòi hỏi quyền lãnh đạo về mặt lý luận Marxist, nhưng những sự bất đồng đã xuất hiện, và đặc biệt, là về hình thức của phương pháp Marxist, liệu biện chứng của phái Hegel có phải là thành phần nội tại của phương pháp đó hay không. Một bên trong cuộc tranh luận là “Phái Cơ học”, mà các thủ lĩnh bao gồm I.I.Stepanov, A. K. Timiriazev và từ một phạm vi nhỏ hơn của Nikolai Bukharin. Hầu hết phái Cơ học đều hờ hững tuyên bố sự lỗi thời của triết học và làm giảm thiểu giá trị của phép biện chứng cho tất cả các lĩnh vực tri thức. Mặc dù họ tiếp tục tự gọi mình là “những người theo chủ nghĩa duy vật biện chứng”, nhưng sự hiểu biết của họ về phép biện chứng đã ly khai một cách đáng kể đối với cách sử dụng thuật ngữ này của Engels. Trong Chống Diihring, Engels đã trình bày phép biện chứng như là một lực lượng tiến bộ nội tại cho tất cả các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Nhằm tránh sa vào chủ nghĩa duy vật may móc của thế kỷ 18, ông đã đặt ra sự tồn tại của một phép biện chứng có khả năng dẫn đến sự thay đổi về chất mà không có một sự thay đổi tương ứng về lượng. Nói cách khác, sự “tự vận động” một cách biện chứng đã thúc đẩy tự nhiên và xã hội tiến lên, chứ không phải từ một lực lượng bên ngoài. Đối với những người thuộc phái Cơ học, Engels sử dụng phép biện chứng có mang dấng dấp của thuyết hoạt lực (vitalism), nếu không muốn nói là duy tâm, vì ông đã thất bại trong việc tìm ra nguồn gốc sau cùng về sự biến đổi biện chứng, nên họ lập luận rằng, Engels thực tế đã làm nên một bước lùi so với lập trường duy tâm của Hegel. Tuyên bố sắc bén và có ảnh hưởng nhất về lập trường của phái Cơ học đến từ Bukharin vào năm 1921, người mà trong tác phẩm Chủ nghĩa Duy vật Lịch sử : Một Hệ thống Xã hội học (Historical Materialism : A System of Sociology) đã nhằm mục đích giảm nhẹ khuynh hướng duy tâm trong phép biện chứng của Engels và thay thế chúng bằng một phương pháp khoa học và có hệ thống hơn. Đối lập lại với Engels, “lý thuyết cân bằng” nổi tiếng của Bukharin đã cải biến lại phép biện chứng cùa Hegel trong khuôn khổ sự tương tác của các lực cơ học độc lập và đối lập lẫn nhau. Vận động biện chứng trong hệ thống của Bukharin chỉ bao gồm sự gián đoạn của “sự cân bằng vốn có” của các lực từ bên ngoài và kết quả là tái lập lại “sự cân bằng trên cơ sở mới”. Ly khai với khái niệm của phái Hegel về sự “tự vận động”, mà Engels đã tuyên bố đặt trên nền tảng duy vật, Bukharin do đó tái khẳng định tính ưu việt, nếu không muốn nói là độc quyền, của các nguyên lý duy vật của chủ nghĩa Marx.[40]

Phái Cơ học đã tìm thấy những đối thủ lớn tiếng và có khả nhất năng trong trường phái các triết gia do Abram Deborin của phái Menshevik đứng đầu[41]. Ông là một người học trò của Plekhanov trước cuộc cách mạng, Deborin đã xuất bản Nhập môn Triết học Duy vật biện chứng (Introduction to the Philosophy of Dialectical Materialism) vào năm 1916, tái khẳng định sự không thể thiếu của phương pháp biện chứng đối với chủ nghĩa Marx và giành được cho ông sự thừa nhận rộng rãi sau năm 1917 như là người kế tục trực tiếp của Plekhanov về mặt triết học[42]. Deborin và những người theo ông là những người ủng hộ nhiệt tình của phép biện chứng Hegel và đã cổ xuý không chỉ cho sự độc lập của triết học đối với khoa học tự nhiên, mà còn cho khả năng vận dụng một cách phổ biến và tất yếu của phương pháp biện chứng trong chủ nghĩa xã hội. Xây dựng dựa trên Engels và Plekhanov, họ thừa nhận phép biện chứng, và hàm ý rằng triết học có chức năng ưu việt và dẫn đường trong tất cả các lĩnh vực tri thức. Theo đánh giá của họ, chế độ chuyên chính vô sản thực tế đã chứng minh về mặt thực tiễn những gì mà phép biện chứng có khả năng đạt được về mặt lý luận. Dưới chế độ chuyên chính vô sản, họ nhấn mạnh, phép biện chứng trở thành một vũ khí hệ tư tưởng có khả năng chỉ ra mối liên hệ hiện thực giữa tất cả các hiện tượng và sự khác biệt giữa bản chất với hiện tượng đơn thuần. Các nhà biện chứng đã tìm thấy sự ủng hộ cho lập trường của họ trong tác phẩm Biện chứng của Tự nhiên của Engels, được xuất bản bởi Riazanov vào năm 1925, và Bút ký Triết học (Philosophical Notebooks) của Lenin, xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1929. Cả hai tác phẩm nhấn mạnh các nguyên lý của phái Hegel có trong chủ nghĩa duy vật biện chứng và cơ bản đã đảm bảo sự chiến thắng, dù chỉ một chút, cho Deborin và trường phái của ông.

Riazanov đã xem xét lập trường của phái cơ học và các nhà biện chứng một cách công bằng và có đầy đủ ảnh hưởng để quyết định những người chiến thắng của cuộc tranh luận. Thông qua việc là người chấp hành văn bản của Di sản, ông đã có phần trực tiếp trong vấn đề này, mối quan tâm của ông về mặt chuyên môn khi là một sử gia đã khiến ông trở thành người tham dự thứ yếu một cách thoáng qua trong một cuộc trao đổi qua lại, mà sau cùng, là giữa các triết gia một cách gay gắt. Ông do vậy đã không bao giờ đưa ra một tuyên bố công khai về sự ủng hộ cho bên nào. Quan tâm đến các chuẩn mực chính thống về chủ nghĩa Marx được xác định bởi Engels và Plekhanov, ông chắc chắn đã khiển trách lập trường của phái cơ học như một sự đảo lộn của một chủ nghĩa duy vật chất phác, đã đồng nhất các hiện tượng phức tạp như là những biểu hiện của các quá trình hóa học vật lý. Điều này đã đưa ông đến gần với phái Deborin hơn, mặc dù như sau này chúng ta sẽ thấy, sự khó chịu của ông đối với nội dung triết học Đức trong chủ nghĩa Marx vẫn được bộc lộ rõ như trước năm 1914. Dù trong bất kỳ trường hợp nào thì sự đồng cảm của ông vẫn là với những người ủng hộ phép biện chứng. Deborin không chỉ đã đóng góp hai bài viết dài về lịch sử phép biện chứng cho Arkhiv mà ông còn làm việc gần gũi với Rịazovov trên tạp chí với tư cách là một đồng biên tập không chính thức [43]. Hơn nữa, Deborin đã nhận được sự hợp tác của một vài người trong số những người ủng hộ ông, những người đã cung cấp những bài điểm sách cho tập đầu tiên và tập thứ ba của Arkhiv : N. Karev, I. Luppol và G. Tymanskii.Có lẽ, nếu không muốn nói là cái tên đáng chú ý nhất, trong số những người cộng tác và là đồng nghiệp của Riazanov, chính là George Lukacs, tác giả người Hungary của tác phẩm Lịch sử và Ý thức Giai cấp (History and Class Consciousness) mà đã diễn giải chủ nghĩa Marx theo một cách gần gũi với Hegel và đã bị đánh giá là “tả khuynh” tại Đại hội lần thứ 5 của Quốc tế Cộng sản vào năm 1924[44]. Thật vậy, chính Deborin đã dẫn đầu cuộc tấn công của Liên Xô vào kiệt tác của Lukacs, và Karev thậm chí đã chỉ ra cuốn sách như một ví dụ về việc vận dụng một cách sai lầm phép biện chứng Hegel[45]. Tuy nhiên, sự đóng góp của Lukacs cho Arkhiv về sự khảo sát có tính phê phán về tư tưởng của Moses Hess, đã không thối lui một cách đáng kể khỏi lập trường trước đây của ông được thể hiện trong Lịch sử và Ý thức Giai cấp[46]. Không kể đến sự bất đồng của Deborin và Lukacs thì thực tế là định hướng lý luận của Arkhiv sau cùng là chống lại phái Cơ học. Thật vậy, không một người thuộc phái Cơ học nào viết bài cho Arkhiv.

Riazanov đã thừa nhận khả năng của Deborin trong phần giới thiệu biên tập cho tác phẩm Biện chứng của Tự nhiên của Engels[47]. Chỉ mỗi Bernstein là đã biết đến tập bản thảo trước khi Riazanov tái khám phá lại nó vào năm 1923. Biện chứng của Tự nhiên là một văn bản rời rạc về tư tưởng của Engels về những gì mà ông xem là nền tảng biện chứng của tất cả các quá trình tự nhiên. Với một số lý do, Rịazanov đã xem cuốn sổ ghi chép đó không có gì khác hơn là những phác thảo sơ bộ cho tác phẩm Chống-Düring, mặc dù trên thực tế, Biện chứng của Tự nhiên đã là sự bất tín với món nợ của Engels đối với Hegel nhiều hơn là so với lời đáp trả của ông (Engels – N.D) đối với Düring[48]. Ông (Riazanov – N.D) như đã có thể loan báo rằng Biện chứng của Tự nhiên như là một cú đánh khác vào Bernstein, người mà dường như đã không bằng lòng với ý nghĩa mang tính cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chỉ đơn giản là gửi tập bản thảo vào văn khố sau khi Engels qua đời vào năm 1895 và lãng quên nó đi[49]. Ông cũng xem nó như một bản cáo trạng cho quan điểm cơ học và tâm lý học thực chứng đã xâm nhập vào chủ nghĩa Marx trước năm 1917. Mặc dù ông không bao giờ đề cập đích danh đến bất kỳ nhà Cơ học nào, nhưng ông nhận thức rõ ràng rằng quan điểm của họ là tàn dư của chủ nghĩa duy vật tư sản và do đó sẽ phải bị tàn lụi. Bất kỳ sự hoài nghi nào mà họ có liên quan đến bản chất biện chứng của chủ nghĩa Marx thì cuối cùng sẽ bị loại bỏ bởi tác phẩm Biện chứng của Tự nhiên với điều kiện là họ đã từng bận tâm đến việc xem qua văn bản. Riazanov đã bực dọc và với một sự vị nể nhất định, đã khiển trách các nhà cơ học vì sự thiếu hiểu biết cơ bản của họ đối với Marx và Engels: “Người Marxist có học thức…. đều hiểu rõ rằng chủ nghĩa duy vật của Marx và Engels được phát triển từ chủ nghĩa duy vật cũ của Feuerbach, xét đến cùng là nó được phân biệt một cách cơ bản, phân biệt với cả mọi chủ nghĩa duy vật lịch sử tự nhiên, vì nó thật sự có tính biện chứng, nó thiết lập nên tính lịch sử của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, rằng lịch sử này, là ở trong cả tự nhiên lẫn xã hội, nó không xảy ra thông qua các kích thích từ bên ngoài, mà là nhờ vào sự phát triển một cách biện chứng của “các mặt đối lập” vốn có trong các hiện tượng này “[50]. Không cố gắng để đánh bóng quan điểm của mình, Riazanov chỉ đơn giản là lặp lại những chuẩn mực của dòng chính thống mà không còn nghi ngờ gì là đã được thiết lập trước đó từ lâu bởi Engels và Plekhanov. Trong tâm trí của ông, Biện chứng của Tự nhiên không có gì mới mẻ, dù sao thì mấu chốt của cuộc tranh luận cũng đã xuất hiện trong Chống-Düring. Ông thậm chí còn thừa nhận rằng bản thảo đã bị mắc lỗi khoa học. Ân sủng cứu rỗi của nó, mà đối với ông, đã biến nó thành một “tác phẩm thiên tài” bất chấp những sai sót của nó, là nằm trong việc vận dụng phương pháp biện chứng do Marx sáng lập ba mươi năm trước. [51]

Điều kỳ lạ là quan điểm của Riazanov về vấn đề trên đã trùng khớp với sự khẳng quyết của Lukacs rằng “Những người chính thống chỉ đề cập đến phương pháp” chứ không phải là “niềm tin vào luận điểm này hay luận điểm kia, [hoặc] lời giải thích của một quyển sách” thiêng liêng”[52]. Tất nhiên Lukacs đã phủ nhận một cách dứt khoát giá trị của phép biện chứng tự nhiên của Engels đối với chủ nghĩa Marx và do đó đã rã đám với Rịazanov về vấn đề hệ trọng này. Tuy nhiên, đồng thời, chúng ta không nên phóng đại chức năng khoa học luận của Engels theo cách hiểu của Riaznov về những người Marxist chính thống, chúng ta quên rằng Rịazanov, cũng như Lukacs, đều nhận ra chủ nghĩa duy vật biện chứng trước hết như là thực tiễn của cuộc cách mạng vô sản. Biện chứng của tự nhiên chỉ bị ẩn đi một cách kín đáo và tế nhị trong hoàn cảnh tư tưởng của ông. Khi Riazanov nói về “phương pháp của Marxist”, ông hơn nữa đã nghĩ đến phương pháp lịch sử phê phán được Marx và Engels sử dụng trong suốt các tác phẩm của họ. Chính vì lý do này, ông đã đúng đắn khi xem tác phẩm Hệ tư tưởng Đức là khám phá lưu trữ vĩ đại nhất của mình. Được viết vào năm 1845 và 1846, và sau đó, Marx đã trầm ngâm rằng, “từ bỏ … cho những lời chỉ trích và gặm nhấm của những con chuột”[53], bản thảo gồm hai tập bao gồm những phê phán mạnh mẽ nhất của Marx và Engels về “chủ nghĩa nhân bản đích thực” của phái Hegel Trẻ cũng như là sự hình thành sớm nhất và thông thái nhất về chủ nghĩa duy vật lịch sử của họ. Riazanov đã thông báo việc tiếp nhận bản thảo của ông với niềm hân hoan được thể hiện một cách khéo léo vào tháng 11 năm 1923 và xuất bản các phần về Ludwig Feuerbach vào năm sau trong tập đầu tiên của Arkhiv [54]. “Điểm xuất phát của chúng tôi, lập trường nền tảng của chúng tôi”, ông tuyên bố với ngừoi tham dự vào năm 1923, diễn giải đoạn mở đầu của Hệ tư tưởng Đức, “là không có gì trừu tượng cả, mà là từ các cá nhân hiện thực và hành động của họ, tác động của họ, các điều kiện mà họ đã lấy làm tiền đề, và những điều kiện được biến đổi thông qua hoạt động của con người. Bất kỳ ai muốn nghiên cứu lịch sử loài người trước tiên phải đặt cho mình nhiệm vụ nghiên cứu con người sinh học, để tìm hiểu về chính con người, và sau đó là môi trường mà anh ta hoạt động”[55]. Phần biên tập ngắn gọn của ông cho tập đầu tiên của Arkhiv đã lặp lại điểm chính của tuyên bố này, trong đó xác định rằng “chủ nghĩa duy vật biện chứng” là nghiên cứu về “lịch sử xã hội loài người như là quá trình cải tạo của con người dưới tác động của tự nhiên và sự cải tạo dưới tác động đến từ hoạt động của con người”.[56]

Thật không may là Riazanov đã chưa bao giờ đưa ra tuyên bố một cách chi tiết và đầy đủ hơn về lập trường của mình về những gì cấu thành nên phương pháp Marxist xác thực.Tuy nhiên, bằng cách nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa “bản thân con người và “môi trường mà anh ta hoạt động”, ông đã nhận thấy rõ sự cân đối nhất định trong quá trình lịch sử giữa các yếu tố kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng. Ông đã nhận ra rằng sự tiến triển về trí tuệ của Marx vào những năm 1840 đã đưa ra một chìa khóa để đi đến một sự hiểu biết rõ ràng về những gì phân biệt giữa thế giới quan và phương pháp Marxist đúng đắn với một bên là một chủ nghĩa duy vật bị quy giản quá mức và chủ nghĩa duy tâm. Đối với ông, như chúng ta đã thấy, Hệ tư tưởng Đức đã đưa ra lời giải thích rõ ràng nhất về phương pháp của chủ nghĩa Marx, nhưng xét như là thành quả sau cùng thì nó đã chưa thành công trong việc minh hoạ đầy đủ con đường của Marx từ chủ nghĩa nhân bản của phái Hegel Tả đến chủ nghĩa xã hội khoa học cũng như mối liên hệ giữa lý thuyết của Marx và chủ nghĩa duy tâm của Hegel. Phát hiện của ông về bài phê bình vào năm 1843 của Marx về “Triết học Pháp quyền” của Hegel và các Bản thảo kinh tế và triết học năm 1844 do đó đã lấp đầy những khoảng trống lớn nhất trong văn khố lịch sử. Riazanov đã xuất bản toàn bộ bài phê bình về Hegel và bốn phần của các bản thảo năm 1844 trong tập thứ ba của Arkhiv (1927). Để đồng hành cùng với chúng, ông đã bổ sung thêm tác phẩm lớn cuối cùng của mình, một nghiên cứu về mặt văn bản về sự tiến triển trí thức thuở ban đầu của Marx và là phân tích có phê phán đầu tiên về hai văn bản nổi tiếng sau đó[57]. Mặc dù Riazanov ca ngợi các tư liệu mới là những cột mốc quan trọng trong sự xuất hiện của chủ nghĩa Marx, nhưng ông không bao giờ xem chúng như là cái gì nhiều hơn những giai đoạn chuyển tiếp cho sự hình thành thế giới quan của Marx. Một phức hợp các yếu tố trong sự phát triển của cá nhân và trí tuệ của Riazanov đã giải thích cách hành xử của ông. Từ khi bắt đầu sự nghiệp, Riazanov đã khăng khăng đòi tách biệt một cách cứng nhắc giữa chủ nghĩa Marx chính thống, về mặt chính trị và lý luận, khỏi các hình thức đối lập của chủ nghĩa xã hội. Giống như Plekhanov, ông hiểu rằng cuộc đấu tranh chính trị thời kỳ tiền cách mạng ở Nga đòi hỏi phải có ý thức giai cấp vô sản mãnh liệt đoạn tuyệt khỏi tất cả những ngộ nhận của những người theo chủ nghĩa dân túy và “tư sản” về vai trò lãnh đạo của tầng lớp trí thức trong việc lật đổ chủ nghĩa Nga hoàng. Sau Cách mạng, sự căm thù của Rịazanov đối với chủ nghĩa duy tâm và các mầm mống của nó trở nên quyết liệt khi sự mềm mỏng về hệ tư tưởng của Chính sách Kinh tế mới (NEP) đã đe dọa đến sự thuần khiết về lý luận của chủ nghĩa Marx, và cũng hàm ý là với cả chế độ chuyên chính của giai cấp vô sản. Điều này buộc ông phải giáng cấp chủ nghĩa Hegel Cánh tả của Marx xuống thành một giai đoạn chỉ đơn thuần là tiền-lịch-sử trong lịch sử của chủ nghĩa Marx khi ông xem xét các văn bản mới.

Như trong các tác phẩm thời kỳ tiền cách mạng của ông về sự xuất hiện của chủ nghĩa Marx, nghiên cứu của Riazanov đã cố gắng tách biệt Marx thời trẻ càng nhiều càng tốt khỏi bầu không khí của triết học Đức những năm 1840. Ông chắc chắn đã có một điểm hợp lý, vì không giống như Feuerbach và đặc biệt là Bruno Bauer, Marx luôn sở hữu một ý thức chính trị thực tế và những khuynh hướng cấp tiến khiến ông phải từ bỏ triết học thuần tuý. Riazanov cho rằng Marx đã tiếp cận Hegel từ một lập trường mang tính chính trị rõ rệt và do đó không bao giờ vượt qua được là người bạn cùng đường bướng bỉnh của những người Hegel Trẻ. Ám chỉ đến công việc của Marx tại Nhật báo vùng Rhein, ông cho thấy rằng mặc dù Marx vẫn chia sẻ quan điểm của Hegel về khả năng của nhà nước cho việc đào luyện từ cá nhân bị cô lập trở thành một nhân cách tự do và có ý thức về mặt tinh thần, nhưng sự bất nhất giữa hiện thực Phổ và luật pháp nhà nước lại cho thấy điều ngược lại. Những mảnh ghép của Marx đối với những người làm rượu Moselle và sự bãi bỏ quyền vốn có của nông dân để thu thập củi đã báo trước sự đảo ngược của ông đối với phán quyết của Hegel, “cái gì hiện thực thì hợp lý”, thành một công thức mang tính cách mạng [58]. Đối với Riazanov, những khuynh hướng cấp tiến và thực tế của Marx đã không bằng lòng với chủ nghĩa Hegel của ông: “[Marx] cố gắng phê phán nhà nước Phổ và hiện thực Phổ ‘trên cơ sở các điều kiện cụ thể và từ lập trường nhất định về mọi thứ,’ bất chấp năng lực vạch trần của Marx thì chúng đều có kết quả là không thành công. Bất chấp việc ông đang nói bằng thứ ngôn ngữ của Triết học Pháp quyền Hegel (Rechtsphilosophie) mà hãy còn đang là lời biện hộ triết học cho nhà nước Phổ thì mọi bài báo của Marx [cho Nhật bao Vùng Rhein] đều chứng thực rằng ông đã đi đến một sự đối lập rõ ràng về trật tự hiện tồn. Nếu đây là Hegel thì đó chính là một Hegel, người mà không chỉ trở thành người vô thần, mà còn là một nhà cách mạng, một Hegel bị lột trần ra bên ngoài”. [59]

Chủ nghĩa Hegel nhất thời của Marx thật vậy đã không gây ấn tượng với Riazanov. Ngược lại, điều gây ấn tượng với ông là sự nhanh nhạy mà Marx, dưới ảnh hưởng của Feuerbach, đã tố cáo sự đồng nhất của Hegel về nhà nước như là chủ thể hợp lý, chủ thể hoá con người trong địa hạt nhà nước. Vì lý do này mà Riazanov xem “Phê phán triết học pháp quyền Hegel” năm 1843 là thời điểm then chốt trong sự phát triển trí tuệ ban đầu của Marx, vì chính Marx đã phát hiện ra “bản chất xã hội” của con người. Trái ngược với Feuerbach đã cho rằng “bản chất tự nhiên” đó của con người đã cấu thành nên chủ thể và đã kiến tạo nên thân phận vĩnh viễn của con người, Marx đã làm nên bước đột phá để hiểu con người như một tồn tại xã hội. Riazanov đã nhanh chóng chỉ ra món nợ của Marx đối với Feuerbach, người mà đã đảo ngược và vận dụng phép biện chứng của phái Hegel vào tự nhiên đã mang lại nguồn cảm hứng cho sự phê phán của chính Marx về nhà nước. Tuy nhiên, đồng thời ông nhấn mạnh rằng tấm gương của Feuerbach, dù quan trọng đến mức nào, cũng chỉ đóng vai trò là chất xúc tác đơn thuần cho chuỗi sự kiện mà đỉnh cao là sự “khám phá” ra bản chất lịch sử và giai cấp của con người nơi Marx và đã tìm thấy biểu hiện đầy đủ về mặt lý luận trong Hệ tư tưởng Đức.

Việc khảo sát các Bản thảo kinh tế triết học nổi tiếng năm 1844 của Riazanov đã tiếp tục nghiên cứu Marx chủ yếu như là một nhà nhân bản trong truyền thống Feuerbach, nhưng là một người có kiến thức về hiện thực chính trị xã hội đã cho ông hiểu biết sâu sắc hơn về ý nghĩa cách mạng của phép biện chứng. Ông đã đưa ra các bản thảo với tiêu đề dễ chịu “Các công việc chuẩn bị cho Gia đình Thần thánh” và chỉ xuất bản những phần truyền đạt rõ ràng nhất về sự tiến triển của Marx về mặt quan điểm về sau được đưa vào trong văn bản : “Tư hữu và lao động”; “Tư hữu và chủ nghĩa cộng sản”; “Làm thế nào để chúng ta đứng trên phép biện chứng của Hegel?”; và “Tất yếu, sản xuất và phân công lao động”[60]. Đối với Riazanov, chủ đề thống nhất của các bản thảo là vấn đề tương tự mà Marx đã nêu ra trong bài phê bình năm 1843 về Hegel, đó là về việc khơi gợi lại bản chất xã hội của con người. Tất nhiên, những người Hegel trẻ và các nhà lý luận xã hội chủ nghĩa khác vào thời điểm đó cũng đã đưa ra khái niệm của Feuerbach về “bản chất tự tha hoá” đối với các phê phán của họ về xã hội tư sản, nhưng, như Rịazanov đã chỉ ra, chỉ có Marx là vận dụng dụng khái niệm này vào kinh tế chính trị hiện đại và hoàn cảnh của giai cấp công nhân [61]. Các bản thảo đã chứng minh rằng, theo Marx, giai cấp vô sản tất yếu phải nổi lên như sự phủ định biện chứng của tư hữu, và chỉ thông qua sự tự nhận thức về bản thân như giai cấp vô sản mới có thể hoàn thành vai trò là người thủ tiêu mâu thuẫn này. Khi trở nên ý thức về sự bị đẩy xuống hàng phi nhân tính của nó dưới bàn tay của tư hữu thì giai cấp công nhân đã bị thúc đẩy một cách không thể đảo ngược để phủ định tình trạng của nó và đòi lại cho chính bản thân nó (và nhân loại) cái bản chất con người của nó[62]. Ở đây đã cho thấy sự hội tụ của phép biện chứng Hegel và chủ nghĩa nhân bản Feuerbach đã xác định vị trí của Marx trong cộng đồng những người Hegel Trẻ đương thời của ông. Nhưng, như Rịazanov nhấn mạnh, Marx đã vượt xa Feuerbach trong việc cứu vãn “tất cả các mặt tích cực của phép biện chứng Hegel” ra khỏi vũng lầy đáng nghi hoặc của hệ thống Hegel : “Nếu sự tha hóa của Feuerbach thường được chuyển thành một sự xuất nhượng đơn thuần trong các thuộc tính thân xác và tinh thần của con người., thì khi đó Marx, dựa trên Hegel, đã nhấn mạnh rằng ở mọi lĩnh vực thì sự tha hóa này của con người không phải là sự xuất nhượng đơn thuần, sự khách quan hóa của con người, mà còn là sự chia rẽ của con người xã hội, sự suy yếu, lầm lạc và là sự huỷ hoại tính thống nhất của anh ta”[63].Trong việc hạ thấp món nợ của Marx đối với chủ nghĩa nhân bản Feuerbach, Riazanov đã hé lộ những thành kiến sâu sắc của chính ông đối với xu hướng của các nhà xã hội chủ nghĩa phi Marxist với việc đánh đồng “bản chất xã hội” của con người với những phạm trù mang tính trừu tượng và tiên nghiệm không phù hợp với hiện thực lịch sử”. Lặp lại chủ đề trung tâm của Hai Chân lý, tác phẩm đầu tay năm 1901, ông nhấn mạnh rằng sự khôi phục “bản chất xã hội” của con người là không thể tách rời khỏi sự thủ tiêu những ảo tưởng cứng đờ và mang tính lãng mạn như vậy: “Sự tồn tại của con người, trong bản chất tối hậu của nó, là tồn tại xã hội…..Ở đây, Marx đã nhấn mạnh rằng, giống như xã hội làm nên con người, nó cũng được làm nên bởi anh ta. Đó là môi trường mà qua đó sự ràng buộc giữa con người và tự nhiên được hoàn thiện”. Do đó, sự sai lầm của tiền đề duy tâm về một chủ thể toàn diện, khác biệt và độc lập với tự nhiên và xã hội, thể hiện trong các hoạch định mang tính không tưởng của các đối thủ của Marx trong thập niên 1840 và các đối thủ dân túy của Đảng Dân chủ Xã hội Nga khoảng 50 năm sau đó. Riazanov rõ ràng nắm bắt được hàm ý của tư ưởng này đối với chủ nghĩa duy tâm và sự sùng bái cá nhân: “Marx ngay từ năm 1844 đã giáng một đòn chí tử vào mọi thể loại chủ nghĩa cá nhân, mọi nỗ lực sùng bái cá nhân(lichnost ‘). Ngay cả khi con người bận rộn với hoạt động khoa học, anh ta vẫn hoạt động với tư cách xã hội. Hoạt động lý luận cá nhân chỉ là sự kết hợp của từ vô-nghĩa. Cá nhân là một thực thể xã hội. Vì lý do này mà một người không thể được đối lập với xã hội, như là một sự trừu tượng, đối với cá nhân, đối với nhân cách. “[64]

Đối với Riazanov, phép biện chứng trước hết phục vụ như là cơ chế mà con người phủ định sự tự tha hóa của mình, và trong quá trình đó, khôi phục lại bản chất xã hội của mình. Hành động phủ định này, ông nhấn mạnh, đòi hỏi “sự xóa bỏ tất cả các rào cản và trở ngại xã hội được tạo ra bởi thế giới của những lợi ích mang tính vị kỷ “, dẫn đến “giải phóng hoàn toàn mọi cảm xúc và năng lực của con người”[65]. Tuy nhiên, Riazanov đã thận trọng, liên kết hành động phủ định cách mạng với nhận thức dần dần của con người về bản chất xã hội và giai cấp của mình, một ý tưởng mà Marx về sau sẽ cải biến thành quan niệm duy vật về lịch sử. Về mặt này, phép biện chứng Hegel đã tác động đến sự từ bỏ chủ nghĩa nhân bản Feuerbach của Marx cũng như sau này đã châm ngòi cho sự phê phán của ông về sự phản động và phi nhân của Triết học pháp quyền Hegel. Do đó, Rịazanov đã cung cấp cho phái Deborin bằng chứng không thể chối cãi về trung tâm điểm của phép biện chứng đối với phương pháp của chủ nghĩa Marx, nhưng giọng điệu của bài báo của ông cho thấy sự mập mờ của chính ông đối với nguồn gốc Hegel của chủ nghĩa xã hội khoa học. Là một sản phẩm của truyền thống chính thống, ông hiển nhiên tái khẳng định tính chất biện chứng của chủ nghĩa duy vật Marxist, nhưng như một nhà cách mạng theo quan điểm ‘vô sản’, ông không mấy thiện cảm với những khúc quanh triết học thời trẻ của Marx. Do đó, Riazanov hơn nữa đã tiếp nhận Biện chứng của Tự nhiên của Engels một cách lãnh đạm và đặc biệt là sự thiếu sót của chính ông đối với việc thừa nhận phái Deborin. Theo sự đánh giá của ông, phép biện chứng là có ý nghĩa hoàn toàn mang tính cách mạng và tính thực tiễn.

Sự trình bày của Riazanov về hành trình của Marx thời trẻ từ chủ nghĩa nhân bản cấp tiến đến chủ nghĩa xã hội vô sản đã tóm tắt lại con đường của nhiều người Bolshevik đã từ chủ nghĩa dân túy đến chủ nghĩa Marx, đặc biệt là của chính ông. Về điều này, ông chỉ đơn giản là kể lại một câu chuyện mà thế hệ của chính ông đã trải qua một cách trực tiếp, và do đó đối với họ là hơi dư thừa. Vì lý do này mà có lẽ các tác phẩm thuở ban đầu của Marx đã ít có ảnh hưởng trong giới Bolshevik trong những năm 1920. Thật vậy, các Bản thảo kinh tế và Triết học đã không được chú ý, các bài bình luận nói chung đã bị hạn chế và mối quan tâm đến chúng không hơn gì là chỉ mang tính hàn lâm [66]. Bất chấp bầu không khí trí thức tương đối tự do của những năm 1920, những người Marxist Xô Viết chỉ đơn giản là không cảm thấy thôi thúc trong việc muốn xoay quanh một vấn đề không mấy quan trọng như nguồn gốc của chủ nghĩa Marx. Các vấn đề lý luận chủ yếu của thời kỳ NEP xoay quanh những thất bại của cuộc cách mạng ở phương Tây và triển vọng gai góc của việc phải xây dựng “chủ nghĩa xã hội trong một quốc gia”, những vấn đề cụ thể mà chỉ có hiện thực của quyền lực chính trị mới có thể đưa đẩy đến và công việc của Rịazanov đã không có mấy tác động. Mãi đến sau Thế chiến thứ II tại các quốc gia vệ tinh của Liên Xô ở Đông Âu, những khám phá của ông mới bắt đầu có hiệu lực, và chỉ sau đó là một phản ứng chống lại sự khắc nghiệt thái quá của chế độ Xô Viết, mà trớ trêu thay Rịazanov đã từng bảo vệ rất nhiệt tình.

Nhìn chung, công việc của Riazanov đã nhận được một phản ứng tích cực. Những người cùng thời của ông đã ca ngợi Viện Marx-Engels và đặc biệt là kho lưu trữ của nó là những kết quả tuyệt vời của Cách mạng tháng Mười, chứng minh cho thế giới rằng nước Nga Xô Viết thực sự đã có chuẩn mực học thuật cao cấp khi bảo tồn và phát triển hạt nhân cách mạng của lý luận Marxist[67]. Tài năng của Riazanov với vai trò là học giả và nhà điều hành không phải là không được chú ý. Tạp chí Bol’shevik đã xem việc phát hiện ra Hệ tư tưởng Đức là dành riêng cho “con mắt thiên bẩm và sự kiên trì của đồng chí Riazanov”[68].Uỷ viên Giáo dục Anatolii Lunacharskii cũng không kém phần cảm kích, khen ngợi Rịazanov đã tổ chức nên một “ngôi nhà kho báu” cho văn hóa Marxist[69]. Một lễ kỷ niệm lớn tưng bừng đã được tổ chức vào năm 1930 để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 60 của ông và một Kỷ yếu đã được ban hành có bao gồm các bài báo và bài phát biểu của các nhà lãnh đạo chính trị và văn hóa như Kalinin, Bukharin, Pokrovskii, Steklov, Iaroslavskii, nhiều người khác[70]. Các đồng nghiệp của ông nhất loạt ngợi ca ý nghĩa về mặt hệ tư tưởng về công việc của ông đối với Di sản : V. P. Miliutin ví mỗi tập do Viện đưa ra như là “một quả bom phát nổ trên đầu những kẻ xuyên tạc, làm biến tướng và sai lệch chủ nghĩa Marx”; Deborin bày tỏ tình cảm tương tự, khẳng định rằng “nhà xuất bản và biên tập viên người Đức về các tác phẩm của Marx và Engels đã sử dụng Di sản, ở một mức độ đáng kể, để củng cố các tư tưởng phản cách mạng, chủ nghĩa xét lại của đảng Dân chủ Xã hội, vốn xa lạ với chủ nghĩa Marx “; Bukharin đã chỉ ra rằng việc phát hiện và xuất bản các văn bản còn chưa được biết đến đã làm nên động lực cho sự thăng hoa của lý luận Marxist sau năm 1917[71]. Vào thời điểm ngột ngạt về ý thức hệ tư tưởng, thì Riazanov, là người vốn nổi tiếng là một nhà trí thức nghiêm túc về sự độc lập và trung thực, đã nhận được sự tán dương cao nhất từ chế độ Stalin. Ít nhất là với vẻ bề ngoài là có mọi dấu hiệu cho thấy cơ hội cho việc ông sẽ tiếp tục với công việc nghiên cứu của mình và tiếp tục gặt hái những danh hiệu cao quý nhất mà chế độ có thể mang lại cho ông. Nhưng công việc hàn lâm và thực tế của sự điều hành của Riazanov đã biểu hiện ra rất nhiều tánh khí khiến ông bất hòa với các nhà lãnh đạo hàn lâm, các thế hệ học giả Marxist trẻ tuổi sau cách mạng và chính với chính bản thân Stalin. Mặc dù không có bằng chứng về một sự dàn xếp liên hết hòng chống lại ông nhưng rõ ràng là Riazanov và Viện là những cái gai bên cạnh nhau, dễ dẫn đến việc khiến họ loại bỏ ông ra khỏi vị trí của ông. “cách mạng văn hóa” đã kìm hãm đất nước từ năm 1928 đến 1931, càng cho làm sự thù địch của họ thêm sâu sắc và đóng vai trò là sự tác động cho việc loại trừ của ông. Nếu chúng ta định nghĩa “cách mạng văn hóa” chỉ đơn giản là một sự đổi mới chủ nghĩa Marx và là sự tấn công của giai cấp vô sản chống lại “văn hóa tư sản” và trùng khớp với các chiến dịch tập thể hóa và công nghiệp hóa, thì việc sa thải Rịazanov sẽ không có gì đáng nghi ngờ, vì không ai trong số những người đương thời với ông có thể hoài nghi một cách xác đáng sự thành thật của ông với tư cách là một người Marxist chính thống. Thật vậy, vị trí của ông là biên tập và người diễn giải chính của kinh điển Marx-Engels đã đưa ông lên hàng đầu hơn hết trong số những nạn nhân nổi bật nhất trong “cách mạng văn hóa”. Phần lớn các mục tiêu nhắm đến được gọi là “chuyên gia tư sản”, trong khi chỉ có rất ít là thuộc về cánh Marxist. Mặt khác, như nhiều học giả đã lưu ý, biến động về văn hóa của những năm này cũng giống như một cuộc xung đột về thế hệ, về cá nhân và về nghề nghiệp như nó là một vấn đề về chính trị – tư tưởng[72]. Nhìn theo những giác độ này, “cuộc cách mạng văn hóa” đã tạo ra mạng lưới đủ đủ lớn cho nó nhằm mang lại ngay cả một số hệ tư tưởng Marxist nhất quán nhất. Thí dụ như hai đồng nghiệp thân thiết nhất của Riazanov tại Viện, Deborin và nhà kinh tế học I.I. Rubin, cũng có liên can tương tự trong phiên tòa xét xử Menshevik vào tháng 1 năm 1931, trong khi Pokrovskii phải hứng chịu những sự công kích từ các phía khác nhau cho đến khi ông qua đời vào năm 1932[73]. Có thế việc loại bỏ, tống giam và sự thanh trừng sau cùng của Riazanov là rất bất thường khi so sánh với số phận của Deborin và Rubin, những người đã được phép tiếp tục làm việc với những điều kiện trước đây sau khi xét lại lập trường quan điểm của họ. Vậy điều gì làm cho trường hợp của Riazanov trở nên khác biệt ?

Ở một mức độ nào đó, Riazanov đã không sở hữu sự linh hoạt cần có của một biên tập viên và người diễn giải của Di sản Marx-Engels trong bầu không khí trôi nổi về mặt tư tưởng của “cuộc cách mạng văn hóa”. Nếu trong thập niên 1920, nhiệm vụ chính của ông là hệ thống hóa chủ nghĩa Marx chính thống theo quan điểm cách mạng, thì sau năm 1928, việc hệ thống hóa “chủ nghĩa Marx – Lenin” đã trở thành mệnh lệnh. Nó không còn chỉ đơn thuần là việc làm mất uy tín đối với chủ nghĩa Marx phương Tây bằng cách bảo vệ hình ảnh cách mạng của Marx, mà còn là để chứng minh và nhấn mạnh những đóng góp ban đầu của Lenin (và sau này là của Stalin) cho lý luận Marxist. Sự thay đổi ý thức hệ này mang theo những âm hưởng chủ nghĩa dân tộc giống như trong lý luận “chủ nghĩa xã hội trong một quốc gia” của Stalin và không thể tách rời khỏi các quá trình tập thể hóa và công nghiệp hóa vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930. Tuy nhiên, định nghĩa về Marksovedenie của Riazanov đã loại trừ chủ nghĩa Marx Nga và các tác phẩm của Lenin ra khỏi tầm nhìn của nó. Ông đặt ra ranh giới theo thời gian cho Marksovedenie với năm 1895, là năm Engels qua đời, có ý nghĩa hoàn hảo khi xem xét các nhiệm vụ và thẩm quyền, mà không cần phải nói lên cái tên, của Viện[74]. Do đó, ông đã loại trừ việc nghiên cứu tập trung vào lịch sử xảy ra gần đây hơn là từ Arkhiv, và sự nhìn nhận duy nhất rõ ràng về Lenin là vào năm 1924 có mặt ở sự đóng góp đến từ hồi ức của chính ông. Những người phê phán ông đã nhanh chóng phát hiện ra sự thiếu quan tâm của Riazanov đối với người sáng lập chủ nghĩa Bolshevik và bắt ông phải chịu trách nhiệm cho điều này ít nhất như là một cái cớ[75], nhưng cho đến cuộc “cách mạng văn hóa” thì một sự thiếu sót như vậy đã trở thành điều dị giáo. Trớ trêu thay, Riazanov đã thành lập Viện với mục đích làm sống lại nội dung cách mạng của chủ nghĩa Marx chính thống, một mục tiêu mà nếu được nhận ra, sẽ nhất thiết là phải giảm thiểu thành tựu về mặt lý luận của Lenin. Do đó, ông thấy mình ở vị trí khó xử và ngày càng dễ bị công kích khi phải bảo vệ và phủ nhận Lenin cùng một lúc. Không có gì ngạc nhiên khi ngay sau khi ông bị sa thải, Istorik Marksist đã lên án Rịazanov vì “phủ nhận vai trò đặc biệt của [Lenin] trong chủ nghĩa Marx”.[76]

Sự xuất hiện của chủ nghĩa Marx – Lenin với tư cách là cái chính thống mới đã bao hàm những ý nghĩa mang tính thực tế rõ ràng và điều này đã tách biệt Rịazanovov và Viện khỏi dòng chính của “cuộc cách mạng văn hóa” sau năm 1928. Dưới chính sách NEP, các học giả và chuyên gia Marxist nhận ra rằng sự nhượng bộ về chính trị và kinh tế của chính quyền Xô Viết đối với giai cấp nông dân và tư sản đòi hỏi một sự rút lui nguy hiểm không kém trong lĩnh vực tư tưởng. Trong thực tế, điều này đòi hỏi sự khoan dung và hợp tác với những trí thức không theo chủ nghĩa Marx, những người mà Rịazanov và các học giả Bolshevik khác hy vọng, dẫn đến việc họ sau cùng sẽ nhận ra tính ưu việt của phương pháp Marxist và nắm lấy nó[77]. Mặc dù Riazanov không nghi ngờ gì đã chia sẻ những tình cảm của những người Bolshevik liên quan đến việc duy trì sự trung thực và bá quyền của chủ nghĩa Marx đối lập với phương pháp luận “tư sản”, ông chủ tâm xây dựng mô hình của Viện trước những học viện nghiên cứu truyền thống đã tạo nên những kết quả rực rỡ cho khoa học và nghiên cứu “tư sản” trong thế kỷ XIX. Cùng với việc phân bố các nguồn lực của nhà nước Liên Xô, ông lý luận rằng, Viện có thể làm được cho giai cấp công nhân và chủ nghĩa Marx những gì mà các tổ chức giáo dục phương Tây đã làm được đến nay cho giai cấp tư sản và trào lưu Khai sáng Pháp[78]. Không rõ rằng liệu Rịazanov có ý định xem đây là một chiến thuật để giành thắng lợi trước những người không theo chủ nghĩa Marx hay liệu ông chỉ đơn giản là bảo tồn những gì ông cho là tiến bộ trong văn hóa “tư sản”. Dù trong bất kỳ trường hợp nào thì rõ ràng là các chính sách điều hành của Viện đã tạo ra một tiếng nói gần gũi và ủy lạo cho các học giả nước ngoài, các sử gia “tư sản”, và phái Menshevik, nhiều người trong số họ đã được tuyển dụng làm dịch giả, nhà nghiên cứu và nhà lưu trữ. [79]

Do đó, khi bầu không khí hòa giải của NEP bị khuất phục trước cơn thịnh nộ điên cuồng của cuộc chiến giai cấp sau năm 1928, Viện đã lờ mờ xuất hiện không chỉ như là khâu yếu nhất trong “mặt trận Marxist” của các học giả Liên Xô, mà còn là chỗ trú ẩn cho kẻ thù của đảng, chủ nghĩa Marx – Lenin, và của chính bản thân chế độ. Sự từ chối của Riazanov đối với việc để Viện hợp tác chặt chẽ hơn với chiến dịch của Mikhail Pokrovski nhằm củng cố các tổ chức nghiên cứu Marxist của quốc gia dưới một phương châm duy nhất không nghi ngờ gì đã gây tổn hại đến ông trong mắt của các đối thủ và chính quyền.Khi ông càng cứ bám lấy một cách kiên quyết hơn về sự độc lập cho hệ thống của mình, thì sự khác biệt giữa “chủ nghĩa Marx” của ông và “chủ nghĩa Marx – Lenin” của những người công kích ông càng trở nên rõ ràng và không thể hòa giải. Những gì đã chỉ là một sự hiềm khích về học thuật và chuyên môn trước năm 1928 do vậy đã tiến triển thành một cuộc đấu tranh bạo lực về chính trị và tư tưởng với sự khởi đầu là cuộc cách mạng của Stalin. “Chủ nghĩa Marx – Lenin”, ít nhất là như đảng và chính quyền của phái Stalin định nghĩa đã ít cho thấy nó như là một sự vận dụng của chủ nghĩa Marx chính thống như Lenin đã từng thực hiện hơn là một cuộc tấn công phủ đầu vào những người xét lại và những người theo chủ nghĩa thần tượng như Riazanov, người đã từ chối ủng hộ sự chi phối của đảng đối với đời sống trí thức của Liên Xô. Về phần mình, Riazanov đã thiết lập phiên bản Marxist chính thống, phi đảng phái hơn, ủng hộ trên hết cho chủ nghĩa duy vật lịch sử và thành quả thực tiễn của nó – rằng chủ nghĩa Cộng sản phải vì giai cấp vô sản, chứ phải chỉ vì bản thân nó. Nói tóm lại, ông không có tinh thần partiinost’. Khi một người lên án ông vào tháng 3 năm 1931 đã sử dụng Riazanov như là “ví dụ hùng hồn nhất” về sự sai lệch khỏi đường lối của đảng [80], ông ta quả thật đã không hề thuê dệt, vì sự hiểu biết rộng rãi về chủ nghĩa Marx của Riazanov đã không thể dung hòa được với việc vận dụng chủ nghĩa Marx – Lenin một cách ngày càng thu hẹp của chế độ.

“Cách mạng văn hóa” cũng thể hiện trong mối quan hệ gay gắt giữa các “chính khách” Marxist cao tuổi như Riazanov và những trí thức Cộng sản trẻ có kinh nghiệm được hình thành từ cuộc Cách mạng Tháng Mười và Nội chiến. Trái ngược với những người Bolshevik trẻ tuổi này, Riazanov từ lâu đã dần làm quen với việc nghiên cứu chậm một cách chậm rãi và có phương pháp mà không thể hoài nghi rằng ông đã tích lũy được nó trong ba mươi năm tù tội và lưu đày của ông trước năm 1917. Cung cách làm việc tỉ mỉ và đôi khi điên rồ của ông đã làm chậm lại đáng kể việc xuất bản Di sản và do đó đã gây bực dọc đến các các chiến binh trẻ tuổi muốn nôn nóng đưa chủ nghĩa Marx đến với công chúng. Ông sẽ thường xuyên ngăn chặn việc xuất bản một cuốn sách vì những lỗi kỹ thuật nhỏ nhất và sau đó bắt những cấp dưới của ông phải chịu trách nhiệm vì đã đề chúng lọt qua [81]. Riazanov biết khá rõ rằng những người Cộng sản trẻ tuổi đã phẫn nộ với sự khó tính và sự bệ vệ hàng cha chú của mình. Trong bài phát biểu tưởng niệm Lenin, ông đã nhắc nhở rằng “chính người trẻ phải biết rằng công việc khoa học đòi hỏi sự kiên nhẫn và nghiêm khắc, đây có lẽ là một trong số ít những điều, một cách tình cờ, mà Lenin và Riazanov đã từng nhất trí [82]. Lời nói của ông rõ ràng đã như là đàn gảy tai trâu, chỉ bốn năm sau đó, ông đã phải đáp lại những lời trách móc từ Hiệp hội các sử gia Marxist vì sự tiến bộ chậm chạp của Viện trong việc hoàn thành những mục tiêu quan trọng của nó[83]. Với sự khởi đầu của “cuộc cách mạng văn hóa”, sự kỹ lưỡng chuyên nghiệp của ông đã trở thành những lý do cho sự lên án chính thức từ các đồng nghiệp cũ của ông trong Hội, những người đã chỉ ra “tiến độ chậm chạp không thể chấp nhận được” của ông trong việc phát hành các tác phẩm đã sưu tầm được.[84]

Tóm lại, Riazanov khác với Deborin, Rubin và Pokrovskii chủ yếu ở việc từ chối tuân theo các mệnh lệnh về tư tưởng và tổ chức mới của chế độ Stalin. Về mặt này, số phận của ông đã phản chiếu số phận của Trotskii và Christian Rakovskii ở chỗ ông cũng không bao giờ thỏa hiệp với Stalin. Mặt khác, chúng ta không nên nói quá về tầm quan trọng của cuộc đối đầu cuối cùng của Riazanov với Stalin vào tháng 1 năm 1931, trong đó vị Bí thư đã cáo buộc Rịazanov che giấu bằng chứng buộc tội các bị cáo trong phiên tòa Menshevik. Theo sự thuật lại của Victor Serge, “Riazanov đã có một cuộc trao đổi đầy phẫn hận với Stalin [vào đêm trước phiên tòa Menshevik],” Các tài liệu ở đâu ? ‘ vị Bí thư hét lên. Riazanov đáp lại một cách kịch liệt, ‘Ông sẽ không tìm thấy chúng ở bất kỳ đâu trừ phi ông tự đặt chúng ở đó! “[85]. Đặc trưng của sự không khoan nhượng của Riazanov như câu chuyện này có thể cho thấy, nó không tiết lộ điều gì nhiều hơn là việc ly khai về ý thức hệ sâu sắc đã ngăn cách ông với Stalin và điều đó giải thích chính xác hơn về sự sụp đổ của ông. Ngay cả khi Rịazanovov đã trao các tài liệu nói trên, ông và Viện vẫn sẽ nổi bật như những dấu tích nguy hiểm tiềm tàng của cái thời đại đã qua khi lấy sự nghiên Marxist một cách vô lối và vô tư lự làm chuẩn mực. Riazanov đã nhân cách hóa những phẩm chất này hơn bất kỳ người Bolshevik nào khác: rằng việc ông là người trí thức đầu tiên của đảng bị công kích đã nói lên nhiều điều về sự trung thực của cá nhân và trí tuệ của ông cũng như về sự thật đáng tiếc rằng ông và Viện hoàn toàn không phù hợp với nước Nga của Stalin.

Sau khi sa thải Riazanov, Arkhiv đã bị gián đoạn và được đặt dưới quyền biên tập của Victor Adoriatskii vốn đáng tin cậy hơn. Ấn bản mới của tạp chí đã trở thành một phương tiện nghiêm ngặt cho các tác phẩm chưa được xuất bản của Marx và Engels, có nghĩa là nó đã loại trừ hoàn toàn Marksovedenie[86]. Đến cuối năm 1931, Viện đã sáp nhập với Viện Lenin, để thành lập Viện Marx- Engels – Lenin. Với sự thanh lý của nó, và bảy năm sau đó của chính bản thân Riazanov, đã không còn dấu vết nào của người đàn ông đã từng hệ thống hóa sự nghiên cứu về Marx tại quốc gia Marxist đầu tiên trên thế giới này.

Cuộc đời và sự nghiệp của Riazanov đã kết thúc trong bi kịch: ông đã không bao giờ nhìn thấy dự án quan trọng của mình cho đến lúc hoàn thành và ông cũng không bao giờ đặt ra những suy nghĩ của riêng mình về lịch sử chủ nghĩa Marx và Marx theo bất kỳ hệ thống nào. Sự phân tán về mối quan tâm của ông cho thấy rằng với tư cách là một nhà sử học, ông đã thiếu sự tập trung, quyết tâm hoặc độ tin cậy để hoàn thành bất cứ điều gì đáng kể. Ông đã thể hiện bản thân mình một cách tốt nhất trong các phương pháp nghiên cứu tương đối vắn tắt về các khía cạnh khác nhau trong cuộc đời và tư tưởng của Marx và Engels, tất cả đều nhằm mục đích làm rõ và làm sắc nét các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Marx cách mạng. Hơn nữa, ông đã tiếp cận công việc của mình với một đội ngũ chuyên nghiệp hiếm có đối với những người trí thức cách mạng. Tuy nhiên, đồng thời, Riazanov đã gán cho Marksovedenie một ý nghĩa mang tính lập trường mà sẽ làm sống lại hình ảnh cách mạng của Marx, hoàn thành công việc hệ thống hóa chủ nghĩa Marx chính thống, và cuối cùng là bảo vệ cho sự thiết lập quyền lực của Xô Viết ở Nga. Sự bi kịch sau cùng đối với cuộc đời ông do vậy lại càng gấp bội và nghịch lý, vì ở cả tính chuyên môn và tư tưởng của ông về lập trường chính trị, đều đã phục vụ ông rất tốt trong thời kỳ của NEP, và lại trở thành những cái dớp gây tranh cãi đối với chính ông trong “cách mạng văn hóa”.

Là người chấp hành văn bản cuối cùng của Di sản Marx – Engels thì Riazanov, một cách vô tình, đã góp phần khởi tạo nên sự tan rã của hệ hình Marxist chính thống. Sự nhất trí của người Marxist thuộc Quốc tế II đã chứng minh không chỉ một cách hời hợt mà là việc xuất bản toàn bộ trước tác sẽ được thể hiện, được thiết lập dựa trên kiến thức cần thiết và có chọn lọc về các tác phẩm của chính Marx. Ở phương Tây, việc xuất bản toàn bộ di sản đã mở ra một chiếc hộp Pandora về các vấn đề và góp phần vào sự phục hưng thật sự của chủ nghĩa Marx nhân bản vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay; ở Liên Xô, sự cứng nhắc về hệ tư tưởng của “chủ nghĩa Marx – Lenin” và sự can thiệp một cách tùy tiện của nhà nước đảng trong đời sống trí thức đã khiến cho Di sản Marx – Engels không còn can hệ gì đến chủ nghĩa Marx Xô Viết. Riazanov không phù hợp với cả Liên Xô và khuôn mẫu Marxist phương Tây. Ông quá độc lập, cả về trí tuệ và tính khí, đã chịu đựng rất lâu sự điên rồ của “chủ nghĩa Marx – Lenin”, nhưng quá nhiều sản phẩm của nền giáo dục Marxist theo khuynh hướng thực chứng của ông phải thừa nhận, chứ đừng nói đến việc nhận thức, về một khía cạnh “nhân bản” của Marx. Mặc dù âm hưởng mang tính quyết định luận của chủ nghĩa Marx vào thời điểm đó đã khiến ông phải hạ giá những chủ đề nhân bản luận thấm đẫm khắp tư tưởng của Marx, nhưng ít nhất ông đã hiểu và thực hành những nguyên lý dân chủ, cách mạng và tính vô sản của học thuyết, là điều rất hiếm có trong khoảng thời gian đó cả ở Nga và phương Tây. Nhưng điều này chỉ chứng tỏ một lần nữa rằng chủ nghĩa Marx của ông đã lỗi thời như thế nào vào đầu những năm 1930, rất lâu sau khi nền dân chủ xã hội phương Tây đã từ bỏ di sản Marxist và khi chủ nghĩa Stalin bắt đầu xuất hiện ở Liên Xô. Với sự sụp đổ và cái chết của Riazanov, chủ nghĩa Marx chính thống đã đi mất học giả về Marx vĩ đại nhất của nó. Sau Riazanov, sự chính thống không còn cần đến người thực thi văn bản và những học giả tài năng, vì chủ nghĩa Marx đã không còn cần đến sự chính thống nữa.

Đại học Pittsburgh

Báo Giới dịch

* Tác giả muốn cảm ơn Giáo sư Richard Hellie, ba độc giả nặc danh của Lịch sử Nga và đặc biệt là Giáo sư William Chase và Orysia Karapinka của Khoa Lịch sử Đại học Pittsburgh vì sự khuyến khích, những lời khuyên và góp ý của họ. (Lời tác giả)

** Một nhà Tâm lý, Sử gia và là nhà Triết học về lĩnh vực Chú giải học nổi tiếng người Đức.(Lời người dịch)

***Một tờ báo lớn ở Nga, tồn tại từ năm 1917 đến sau khi Liên Xô tan rã và vẫn còn hoạt động cho đến nay.

****Narodnik là một phong trào chính trị có khuynh hướng Dân túy, chủ trương chống lại chế độ Sa hoàng của nước Nga thời bấy giờ.

Báo Giới dịch.

Bản gốc tiếng Anh tại đây. Bạn có thể tải về bản word tiếng Anh sau đây để in ra và đọc trong những ngày cuối năm 2018, đầu năm 2019: https://goo.gl/pso8zi

[1] Leonard Schapiro, The Communist Party of the Soviet Union (New York: Vintage, 1971),398; Bertram D. Wolfe, Three Who Made a Revolution (Boston: Beacon Press, 1955), 499-50.

[2] Isaac Deutscher reports that in the 1920s Riazanov once said to Stalin: “Stop it, Koba,don’t make a fool of yourself. Everybody knows that theory is not exactly your field.” See Stalin, A Political Biography (New York: Vintage, 1960), 290

[3] Robert V. Daniels, The Conscience of the Revolution (Cambridge, MA: Harvard Univ.Press, 1961), 379 ; Adam B. Ulam, The Bolsheviks (New York: Macmillan, 1965), 544-45

[4] John Barber, Soviet Historians in Crisis (New York: Holmes and Meier, 1981); George Enteen, The Soviet Scholar Bureaucrat: M. N. Pokrovsky and the Society of Marxist Historians (University Park, PA: Pennsylvania State Univ. Press, 1978); Jonathan Frankel, “Party Genealogy and the Soviet Historians,” Slavic Review 25 (1966): 563-603.

[5] Victor Serge, Memoirs of a Revolutionary, trans. and ed. Peter Sedgewick (London: Oxford Univ. Press, 1963), 250 ; “Delo t. Riazanova,” Biulletin’oppozitsii, vol. 2: 1931-33 (New York: Monad Press, 1973), 21.

[6] Rossiiskii tsentr khraneniia i izucheniia dokumentov noveishei istorii (hereafter cited as RTsKhIDNI).fond301, opis’ 1, delo 159, list 1; see also V. Nevslili. Ocherki po istorii rossiiskoi kommunisticheskoi partii, vol. 1 (Leningrad: Rabochee izdatel’stvo “priboi,” 192p, 290; and V.Nevskii, ed., Istoriko-revoliutsionnyi sbomik, vol. 2 (Leningrad: Gosudarstvennoe izdatel’stvo,1924), 198…..

[7] RTsKhIDNI, f. 301, op. 1, d. 167,1. 53; Nevskii./storiko-revoliutsionnyi sbomik, 198; Nevsky, Ocherki, 289-91

[8] RTsKhmNI, f. 301, op. 1, d. 159,1. 34; Nevskii, Istoriko-revoliutsionnyi sbomik, 198-99

[9]RTsKhIDNI, f.301, op.1, d-154, 1.4,57; Entsiklopedicheskyi slovar’ russkogobibliograficheskogo instituta granat. Deiateli soiuza sovetskikh sotsialisticheskikh respublik i oktiabr’skoi revoliutsii (avtobiografii i biografii), 7th ed., reprint (Moscow: Sovietskaia entskliopediia, 1989), 231.

[10] Riazanov published four articles for Zaria and Iskra in that year: “Rabochoe delo,”Zaria, no. 1 (1901); “Tsarskii kabak,” and “Arkheologiia i politsiia,” Iskra, no. 8 (1901); “Gollandiia,” Iskra, no. 1 ( 1901 )

[11] See the objections of Bauman and Trotsky to Riazanov’s admittance to the congress in Vtoroi s”ezd RSDRP, iiul’-avgust 1903 goda. Protokoli i stenograftcheskie otchety s”ezdov ikonferentsii kommunisticheskoi partii sovetskogo soiuza (Moscow: Gosudarstvennoe izdatel’stvo politicheskoi literatury, 1959), 29-30.

[12] For Riazanov’s critique of Iskra, see Materialy dlia vyrabotki partiinoi programy, vyp. 2: Proekt programmy “Iskra” i zadachi ru.rskikh solsial-demokratov (Geneva: Izdanie gruppy “Bor’ba,” 1903); for the Bor’ba group’s own pro see Materialy dlia vyrabotki partiinoi programy, vyp. 3: Nasha programma, proekt programmy gruppy “Bor’ba” i kommenlarii k nei (Geneva: Izdanie gruppy “Bor’ba,” 1903); see also Ob’iavlenie ob izdaniiakh sotsialdemokraticheskoi gruppy “Bor’by” (Geneva: n. p., 1901), 4, 6-7 ; for Plekhanov’s reply to Riazanov, see “Ortodoksal’noe bukvoedstvo,” Sochinenii, vol. 12 (Moscow: Gosudarstvennoe izdatel’stvo, 1923), 371-410; for documents relating to the Bor’ba group’s exclusion from the congress, see Vtoroi s “ezd RSDRP, 697-99.

[13] Vtoroi s “ezd RSDRP, 47, 438.

[14] RTsKhIDNI, f. 301, op. 1, d. 159, U. 9-10, 12

[15] Gesammelte Schriften Yon Karl Marx und Friedrich Engels’, 1852 bis 1862, ed. N.Rjasanoff, 2 vols. (Stuttgart: J.H.W. Dietz Nachf., 1917)

[16] RTsKhIDNI, f. 301, op. 1, d. 159,1. 22.

[17] A. Deborin, ed., Na boevom postu. Sbornik k shestidesiatiletiiu D. B. Riazanova (Moscow: Gosudarstvennoe izdatel’stvo, 1930), 135-36

[18] . “OnodoksU’noe bukvoedstvo,” 381.

[19] . D. Riazanov, “Anglo-Russkie otnosheniia v otsenke K. Marksa,” Ocherki po istorii marksizma (hereafter cited as Ocherki), 2 vols. in one (Moscow: Kooperativnoe izdatel’stvo “Moskovskii rabochii,” 1928), 2: 178-79; D. Riazanov, “K. Marks i F. Engel’s o L. Feierbakhe, predislovie redaktora,” Arkhiv K Marksa i F. Engel’sa 1 (1924), 193; see also Riazanov’s comments in “K stoletiiu so dnia rozhdeniia N. G. Chernyshevskogo,” Istorik marksist 28 ( 1928): 148..I

[20] . His three most important pieces from this period are: Karl Marx uber den Ursprung der Vorherrschaft Russlands in Europa. Kiiiische Untersuchungen (Stuttgart: Die Neue Zeit, 1909), first published in Russian as Anglo-Russkie otnosheniia v otsenke K. Marksa (Istorikokriticheskii etiud) (Petrograd, 1918), and later included in Ocherki 2; “Marx und seine russischen Bekannten in den vierzigen Jahren,” Die Neue Zeit (1913), first Russian edition, “Karl Marks i russkie liudi sorokovykh godov,” Sovremennyi mir 8-12 (1914); “K. Marks i F. Engel’s v ikh perepiski do revoliutsii 1848 goda,” Ocherki 1:

[21] “K. Marks i F. Engel’s v ikh perepiski do revoliutsii 1848 goda,” Ocherki 1: 4-5.

[22] Arkhiv K. Marksa i F. Engel’sa (hereafter cited as Arkhiv), pod redaktsiei D. Riazanova, vols. 1-5 (1924-30)

[23] D. Riazanov, Institute. Marksa i F. Engel’sa pri V.Ts.LK. (Moscow: Moskovskii rabochii, 1923), 15; the offices. were devoted to the following themes: Marxist theory, German history, English history, French history, philosophy, law and jurisprudence, political economy, history of socialism, the relations between Russian socialism and Marxism, sociology, diplomacy and foreign affairs, and the First International.

[24] Arkhiv 1 ( 1924): 220-56; Arkhiv 4 ( 1929): 215-91.

[25] Arkhiv 3 (1927): 247-86.

[26] . Ibid.: 143-24.

[27] Arkhiv 2. Printed in Russian, the texts were intended strictly for the Soviet audience since the German Social Democrats did not allow Riazanov to publish them in the original until a later date. See D. Riazanov, “Novye dannye o literaturnom nasledstve K. Marksa i F. Engel’sa,” Ocherki, 1: 207. Only two volumes of the authoritative German edition of the collected works appeared under Riazanov’s editorialship: his dismissal and imprisonment prevented him from finishing the task. See K. Marx-F. Engels, Historisch-kritische Gesamtausgabe, WerkeISchriften/Briefe. hrsg. von D. Rjazanov (Frankfurt a.M.: Marx-Engels Verlag,1927 ff.)

[28] D. Riazanov, “Dve pravdy: narodnichestvo i marksizm,” in Iu. Steklov, Otkazyvaetsia-limy ot nasledstva? K voprosu ob istoricheskom podgolovlenii russkoi sotsial-demokratii (Geneva: Izdanie gruppy “Bor’ba,” 1902), subsequently published in Ocherki, vol. 2.

[29] D. Riazanov, “Dve pravdy,” Ocherki, 2: 118-19, 122.

[30] Ibid., 125…

[31] Ibid., 134-35.

[32] Ibid., 144; see also D. Riazanov, G. V. Plekhanov i gruppa IOsvob”ozhdenie’Truda’, 4th ed. (Moscow: Otdel pechati Moskovskogo soveta R. i. K. D., 1919), 26.

[33] K. Marx-F. Engels, Der Briefivechel zwischen Fr. Engels und Karl Mary, 1844-83, ed. August Bebel and Edward Bernstein (Stuttgart:1. H. W. Dietz Nachf., 1913); D. Riazanov, “K.Marks i F. Engel’s v ikh perepiski do revoliutsii 1848′ §odm” Ocherki, vol. 1.

[34] Riazanov, “K. Marks i F. Engel’s v ikh perepiski,” 29-30.

[35] Ibid., 36-37,63-64.

[36] Ibid., 37.

[37] See Riazanov’s preface to the second edition of Karl Marx and Friedrich Engels, The Communist Manifesto, edited and with explanatory notes by D. Riazanov, translated by Eden and Cedar Paul (New York: International Publishers, 1930), 258.

[38] Quoted in E. H. Carr, The Bolshevik Revolution, 1917-1923, vol. 2 (New York: W. W. Norton, 1980), 278

[39] RTsKhIDNI, f. 301, op. 1, d. 78,1l. 16-17

[40] See N. Bukharin, Historical Materi*alisn4 A System of Sociology (New York: Intemational Publishers, 1925), 104-275; F. Engels, Anti-Dühring, in Marx-Engels, Collected Works, vol. 25 (New York. International Publishers, 1975), 110-32; Gustav Wetter, Dialectical Materialism, trans. Peter Heath (London: Routledge and Kegan Paul, 1958), 137-49; Stephen Cohen, Bukharin and the Bolshevik Revolution (Oxford: Oxford Univ. Press. 1980), 115-19; Z. A. Jordan, The Evolution of Dialectical Materialism (New York: SL Martin’s s Press, 1967), 151-82 ; David Joravsky, Soviet Marxism and Natural Science (New York: Columbia Univ. Press, 1961), 93-106.

[41] Wetter, Dialectical Materialism, 159-66; Rene Ahlberg, “The Forgotten Philosopher:

Abram Deborin,” in Leopold Labedz, ed., Revisionism, Essays in the History of Marxist Ideas (New York: Praeger, 1962), 126-42; R. D. Rucker, “Abram Moiseevic Deborin : Weltanschaung and Role in the Development of Soviet Philosophy,” Studies in Soviet Thought 19 (1979), 185-208; Joravsky, Soviet Marxism, 170-83.

[42] A. Deborin, Vvedenie na filosofiiu dialekticheskogo P, Ulterializma (Petrograd, 1916; Moscow: Gosudarstvennoe isadatel’stvo, 1922)

[43] A. Debozin, “Ocherki po istorii dialcktfld. Ocherk pervyi. Dialektika u Kanta,” Arkhiv 1( 1924): 13-75; “Ocherki po istorii dialecktiki. Ocherk vtoroi. Dialektika u Fikhte,” ibid 3 (1927): 7-50 ; see also Arkhiv 1 : 10 and Arkhiv 2: xxxii

[44] Leszek Kolakowski, Main Currents of Marxism, vol. 3 (Oxford: Oxford Univ. Press,1978), 66-7.5, 260.

[45] Arkhiv I (1924): 455

[46] G. Lukach, “Novaia biografiia M. Gessa,” ibid. 3 (1927): 440-61

[47] “Predislovie redaktora,” ibid. 2 (1925): ix-xxxii.

[48] Ibid., xxii.

[49] Ibid., xxv-xxvi.

[50] Ibid., xxx

[51] Ibid.

[52]G. Lukacs, History and Class Consciousness, trans. Rodney Livingstone (Cambridge, MA: MIT Press, 1971), 1.

[53] K. Marx, “Preface to A Contribution to the Critique of Political Economy,” in Karl Marx and Frederick Engels, Selected Works (New York: International Publishers, 1986), 184

[54] “Novye dannye o literaturnom nasledstve K. Marksa i F. Engel’sa,” Ocherki 1 : 191-97; see also D. Riazanov, “K. Marks i F. Engel’s o Feierbakhe, predislovie redaktora,” Arkhiv 1 (1924): 191-99; and “Feierbakh. (Ideatisticheskaia i materialisticheskaia tochki zreniia),” ibid., 212-56.

[55] “Novye dannye,” Ocherki 1: 195-9

[56] “Ot redaktsii,” Arkhiv 1 (1924): 10

[57]Arkhiv 3 (1927): 143-286; D. Riazanov, “Ot’Reinskoi G¡uéty’ do’Sviastogo semeistva’ (vstupitel’naia stat’ia),” ibid., 103-42

[58] Ibid., 106-07

[59] Ibid., 108

[60] Ibid., 247-86.

[61] Ibid., 131.

[62] Ibid., 13

[63] Ibid., 139

[64] Ibid., 134-35

[65] Ibid., 135

[66] See “Arkhiv K. Marksa i F. Engel’sa pod redaktsiei D. Riazanova, kniga tret’ia,” Istorik marksist 7 (1928): 279-81, and E. Pashukanis, “Arkhiv K. Marksa i F. Engel’sa, pod redaktsiei D. Riazanova, kniga tret’ia,” Bol’shevik 18 (1927): 101-04.

[67] “Ob institute K- Marksa i F. Engel’sa pri Ts.I.K. SSSR,” Istorik marksist i (1926): 323; K.Shmiukle, “I tom polnogo sobraniia sochinenii Marksa i Engel’sa,” ibid. 6 ( 1927): 216

[68] P. Sapozhnikov, “Arkhiv K. Marksa i F. Engel’sa pod redaktsiei Riazanova. Kniga pervaia,” Bol’shevik 2 (1925): 82.

[69] Letopisy marksima 4 ( 1927): 145

[70] Deborin, Na boevom postu

[71] Ibid., 31, 121, 14

[72] See, for example, Sheila Fitzpatrick, ed., Cultural Revolution in Russia. 1928-1931 (Bloomington: Indiana Univ. Press, 1978)

[73] George Enteen, “Marxist Historians during the Cultural Revolution: A Case Study of Professional In-Fighting,” in Fitzpatrick, Cultural Revolution, 162.

[74] “Ot redaktsii,” Arkhiv 1 (1924): 9.

[75] Bol’shevik 2 (1925): 78-79

[76] postanovlenie prezidiuma obshchestva istorik-marksistov ot 7 marta 1931 o D. B.Riazanove,” Istorik marksist 21 (1931): 18.

[77] Enteen. The Soviet Scholar Bureaucrat, 76-77.

[78] RTsKhIDNI, f. 301, op. 1, d. 83, ill. 61-64; Letopisy ynarkshma 5 (1928): 17.

[79] Letopisy marksizma 5 ( 1928): 14; Barber, Soviet Historians in Crisis, 37-38; see also S. R. Tompkins, “Trends in Communist Historical Thought.” The Slavonic and Ea3t European Review 13 (1935): 306.

[80] N. Lukin, “Za bol’shevistskuiu partinost’ v istoricheskoi nauke,” Istorik marksist 22 (1931) : 8.

[81] M. Vol’fson, “D. B. Riazanov kak redaktor-izdatel’,” in Deborin, Na boevom postu, 111

[82] RTsKhIDM, f. 301. Ope I, d. 78,11. 3-4.

[83] Letopisy marksizma 5 (1928): 11.

[84] “Tezisy fraktsii soveta obshchestva istorik-marksistov o zadachakh marksistskoi istoricheskoi nauki v rekonstruktiunyi period,” Istorik marksist 21 (1931): 18.

[85] Serge, Memoirs of a Revolutionary, 250.

[86] V. Adoriatskii, ed., Arkhiv Marksa i Engel’sa (Moscow: Partiinoe izc3atel’stvo, 1933 ff.).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s